Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Tuesday, May 29, 2012

Bài phỏng vấn anh Vũ Thành Tự Anh

Tôi rất thích bài phỏng vấn này của anh Vũ Thành Tự Anh, nhân dịp này mở lại blog:
http://chuyentrang.tuoitre.vn/TTC/Index.aspx?ArticleID=338049&ChannelID=12. Anh Vũ Thành Tự Anh là một trong những trí thức Việt Nam tôi nể phục và trân trọng nhất.

Thời gian gần đây ít khi đọc được tin tạo hứng khởi về kinh tế Việt Nam. Có tin này anh Tự Anh nhắc đến, rất thú vị, nhưng chắc là ít khả năng thành hiện thực:
Một ví dụ là thời gian vừa qua Bộ Công Thương có đề xuất tái cấu trúc Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) bằng cách chia nhỏ EVN thành các công ty và để chúng cạnh tranh với nhau. Đề xuất này của Bộ Công Thương theo tôi là rất đúng hướng, thế nhưng EVN lại không mặn mà với đề xuất này vì như vậy có thể họ sẽ mất thế độc quyền hiện có. Mà nếu EVN không “ưng” thì việc tái cấu trúc EVN tuy đúng đắn nhưng cũng khó được triển khai.

Thursday, October 28, 2010

Tháp tuổi Việt Nam và vấn đề giáo dục

Tạm thời đặt viên gạch trước ở đây, khi nào ra trên báo Vietnam Financial Review thì tôi sẽ đăng lên đây sau.

...

Bài này mới đăng trên báo Vietnam Financial Review, nay tôi để ra blog bản chưa qua biên tập. Nội dung chính là ảnh hưởng của vấn đề dân số học lên câu chuyện giáo dục ở Việt Nam.

The flattened age pyramid and the education challenge

Demographic attributes are among the most persistent, most predictable socio-economic characteristics of a country, compared to other variables such as GDP, investment or consumption growth. Given the central role of population in most society-wide phenomena, it should be a key indicator in all forward-looking strategic planning for both public and private purposes. The failure to fully acknowledge this point can be very costly, as illustrated in the case of Vietnam’s education system in recent years.

Vietnam has a unique twentieth century demographic history, with vast impacts of the half-century long wars, economic underdevelopment, a post-war population boom in the late 70s and early 80s, followed by a mild population restriction policy. All these historical traits leave unmistakable marks on the demographic growth and composition. While some of their effects have long been under consideration by policy makers, others seem to be overlooked, leaving humongous consequences.

The reunified Vietnam since 1975 experienced a surge in population similar to the baby boom in the West, somewhat despite economic hardship in the early 1980s. Even though population growth was later kept under control by a series of financial and occupational disincentives against high-fertility families, the age pyramid quickly expanded at the bottom for several generations of children. This particular phenomenon promises a huge demand for education when those children reach their school age in the 1990s and 2000s.

The population growth was coupled with a strong push of urbanization in a typical emerging economy. The urban population share rises about two percentage points a year, with most urban immigrant families focusing on giving their children a better chance. That creates enormous demand pressure on the education infrastructure of large cities.

However predictable it was, that demand trend has not been dealt with properly. The supply side remains rigid until recently, partly due to inadequate national education planning, partly due to stringent bureaucratic red tapes preventing the private sector to step in and fill the gap. In cities, the number of public schools has not grown, while their capacity improved only by a small fraction, mostly in unavoidable situations. Under strong pressure, educational entrepreneurs have slowly been allowed into the picture, first in joint venture with public institutions, and since a few years in independent businesses. Nevertheless, the high costs of licenses, both in time and in other means, have kept the private share of the market relatively low.

More importantly, supply of skilled labor in this profession has not seen much improvement. While education schools may make progress in teaching quality, since the 1990s the quality of incoming students to those schools deteriorates sharply as better students can now choose more lucrative career paths, as opposed to be assigned to a university by a central authority. Consequently, graduating batches of teachers since the late 1990s barely compare to previous generations, many of whom soon reached retirement age. Together with a stagnate capacity of education supply, its real quality has been impoverished by the self-selection out of a low salary career.

Education quality thus starts its decline since the late 1990s, when high, growing demand meets low capacity, low quality supply. Classroom size usually reaches more than 50, and the rationing process in education creates many ugly side effects, such as extra-hour classes by the very same teachers on the same topics for additional remunerations, or student-screening prerequisites starting even before school age. Government-enforced quality control lacks a serious, non-superficial monitoring system, and reform attempts have been staunched by fervent conservative opponents. Market forces, on the other hand, are dysfunctional as too few private schools manage to emerge to bridge the supply-demand gap. Schooling does not mean the same as a generation before, and better-off parents seek all means to support their children with adequate education, including sending them abroad at an earlier and earlier age.

Many experts point out that the remedy lies in the liberalization of the education market to domestic and foreign private entities. Clean and clear competition with enough private competitors who truly value their clients – parents and children – would improve the system and may keep it in check against adverse side effects. In fact, not only should private schools be allowed to freely enter the market, they should also be partly subsidized with land use, since the value they create for the society can largely exceed what the entrepreneurs can reap in return. However, similar to many reform policies, liberalization is always met with a strong group of opponents, be it on ideological, practical or business ground.

While a full-scale liberalization may be out of the near horizon, the education sector is still a highly profitable area of investment, even with the current high fixed costs of starting a business. Young middle-class parents coming from the first wave of baby boom in the 1970s are quick to realize the education conundrum their children are facing now, and will not wait for the government’s intervention to improve their children’s lot. They are already contributing heavily, in money and in time, to the public school education of their children, but they would also be willing to spend more to get them a better, care-free education in private schools. High growth breeds not only more demand of education, but also demand for higher quality that can be more assuredly met by eager, dynamic education investors than the State. The next few years will predictably see new surge in private education institutions, giving the society more, better choices.

Monday, October 18, 2010

Bao giờ cho đến tháng Mười

Mấy ngày hôm nay tôi hay bật tuyển tập các bài hát hay về Hà Nội, theo yêu cầu của mẹ tôi. Có những bài hát gắn liền với kỷ niệm về tiếp quản Thủ đô năm 1954 của mẹ tôi, nhân dịp Hà Nội tổ chức Đại lễ vào đúng ngày 10 tháng 10 nên kỷ niệm cũ cũng dội về. Nghe kể lại, những sự kiện như vậy đánh dấu những cột mốc đặc biệt quan trọng, và để lại những ấn tượng đặc biệt sâu sắc trong cuộc đời mỗi người.

Câu chuyện này làm tôi nghĩ đến nhiều ý nhỏ. Thứ nhất, lại là vấn đề Đại lễ. Người sống lâu năm ở khu vực Hà Nội cũ phần đông cảm thấy bất tiện vì Đại lễ, cảm giác tiêu cực đủ loại từ mức khó chịu đôi chút cho đến bực dọc suốt thời gian diễn ra các sự kiện trong dịp này (điều này chỉ dựa trên quan sát cá nhân của tôi). Cũng dễ hiểu, vì Đại lễ làm xáo trộn, cản trở rất nhiều cuộc sống của người dân, trong khi phần nhiều dân cư khu vực này không thấy việc bỏ tiền ra tổ chức là việc làm thích đáng. Nói rộng hơn, thì đây là dịp sử dụng tiền công quỹ do toàn dân đóng góp (thuế) hoặc toàn dân sở hữu (tài sản nhà nước) để tổ chức một sự kiện cục bộ (cho dù là Thủ đô, vẫn khá cục bộ), ở mức độ cực lớn, nên không ngạc nhiên gì khi rất rất nhiều người đặt rất rất nhiều câu hỏi, và đưa ra đánh giá bi quan về chính sách đặc biệt này. Chuyện này đầy rẫy trên mạng, chắc không cần bàn thêm.

Nhưng chuyện tôi muốn bàn là dịp Đại lễ đã được cho một số lượng lớn người dân ủng hộ. Phần nhiều họ không sống ở trung tâm, thậm chí cũng không sống ở nội thành, nhưng sẵn sàng bỏ ra khá nhiều tiền bạc, và đặc biệt là rất nhiều công sức để đến theo dõi Đại lễ. Họ ít lên tiếng trong những môi trường như blog, nên các bạn và tôi chắc ít có dịp đọc được ý kiến của họ. Tuy vậy, rõ ràng là họ hứng thú sự kiện đến mức có thể bỏ ra nhiều ngày, nhiều tiền (so với thu nhập) để cùng cả gia đình tham gia. Có thể đối với họ, sự kiện ngày 10 tháng 10 năm 2010 cũng để lại những ấn tượng đặc biệt sâu sắc như ấn tượng ngày 10 tháng 10 năm 1954 của mẹ tôi. Có thể họ thậm chí sẵn sàng đánh đổi một chuyến đi du lịch Bali, Brunei hay Bangkok (giả tưởng họ được đề nghị như vậy, với cùng một số tiền bỏ ra) để được tự tham gia sự kiện Đại lễ. Có thể họ sẽ còn kể nhiều về Đại lễ với lòng tự hào và sự hào hứng cho con cháu họ hàng chục năm sau này, điều khó xảy ra với một chuyến đi du lịch bình thường. Vì thế, khi đánh giá phúc lợi của chính sách này, phúc lợi của nhóm người hoan hỉ vì Đại lễ cần phải được cân nhắc, và nó có thể đóng vai trò khá quan trọng.

Ý nhỏ thứ hai, có liên quan đến câu hỏi trước, là giá trị phúc lợi của những hiện tượng, sự kiện xã hội lớn gây ấn tượng sâu sắc đến đông người. Ví dụ như sự kiện Trung Quốc phóng thành công tầu vũ trụ, đối với mỗi người dân, có thể mang nhiều ý nghĩa hình tượng. Bản thân mỗi người dân có thể tự nguyện bỏ ra một số tiền để có được sự kiện như vậy; có thể giá trị trung bình chỉ là $10, thì tổng cộng một sự kiện như thế cũng đem lại ý nghĩa hình tượng đến $10 tỷ. Ví thế, khi tính ích lợi của những chính sách như vậy, cần bao hàm cả những giá trị hình tượng. Quay lại sự kiện Đại lễ của Hà Nội, cách thức và văn hóa tổ chức có thể gây phản cảm với nhiều người có gu văn hóa tinh tế. Tuy vậy, trên phương diện chính sách công thì sự kiện cần phải thỏa mãn gu văn hóa đại chúng, chứ không nhất thiết là gu văn hóa tinh tế (dù đây là điểm gây tranh cãi). Theo mỗi cách nhìn, việc đánh giá sự thành công của sự kiện về mặt văn hóa sẽ rất khác nhau.

Cũng về giá trị hình tượng của các sự kiện, có thể nói trong thế kỷ 20 dân tộc Việt Nam đã có khá nhiều sự kiện ấn tượng sâu sắc, tạo nên những giá trị hình tượng rất lớn với cuộc đời của rất nhiều người dân. Tuy vậy, có những sự kiện mang lại giá trị hình tượng tốt đẹp với một số người, song lại có giá trị hình tượng xấu với những người khác. Do đó, không nhất thiết là lịch sử là một nhà sản xuất giá trị hình tượng lớn cho toàn bộ người Việt. Dù sao, đến cuối thể kỷ 20, đối với phần nhiều người Việt có chia sẻ một lòng tự hào nhất định về lịch sử hiện đại (tách biệt khỏi các vấn đề kinh tế), thì có lẽ giá trị hình tượng của lịch sử cũng tương đối đáng kể.

Còn một vài ý nhỏ khác, nhưng tôi buồn ngủ quá nên đành để sau vậy.

Tuesday, September 14, 2010

Suy nghĩ về giáo dục ở Việt Nam: điểm một vài vấn đề

Đợt trước có một số bạn đặt câu hỏi liệu giáo dục ở Việt Nam có vấn đề gì đáng kể để phải tính đến chuyện đầu tư vào sửa đổi hay không. Quan điểm của tôi là có khá nhiều. Trong thời gian bắt đầu viết bài trước, tôi tiếp xúc với rất nhiều bố mẹ trẻ có con học ở các cấp 1, 2 ở Việt Nam, và được nghe rất nhiều chuyện tệ hại đến giật mình; vì thế, tôi mặc định người đọc đều chung nhận định là có vấn đề về giáo dục. Hôm nay nhân thấy chùm bài liên quan trên VNExpress (xem link), nên tôi viết thêm một chút để giải thích sự mặc định của mình. Ngoài những chuyện được nhắc đến trên VNExpress, cũng phải nhắc đến nhiều chuyện khác mà tôi được biết từ những trường công được đánh giá tốt nhất ở khu vực Hà Nội: như là giáo viên đánh học sinh, giáo viên sai học sinh khoẻ đánh học sinh yếu, học sinh lớn đánh học sinh bé, hăm doạ học sinh, cộng với việc bắt buộc học thêm, giấu nội dung học chính vào lớp học thêm, chấm điểm lệch lạc tuỳ ý, vv. Một trong những hệ quả, như trong bài trên VNExpress đã nói, là học sinh coi đi học như cực hình. Có nhiều điểm có thể tranh luận về nội dung giáo dục, nhưng đây là một điểm xấu không thể bàn cãi. Và dự tính của tôi khi viết bài mở đầu của chùm bài này là diễn tả nguyên nhân của những điểm xấu từ sự lộn xộn về động cơ làm việc của tất cả những nhóm người liên quan (không chỉ có thầy cô giáo và học sinh).

Tôi sẽ tiếp tục viết thêm và hồi đáp lại một vài câu hỏi khi có thời gian.

Saturday, August 21, 2010

19-20 tháng 8 năm 2010

Hai ngày hôm nay có hai tin đáng nhớ. Anh Ngô Bảo Châu chính thực được trao Huy chương Fields, giải thưởng cao nhất về toán học. Ông Đặng Phong cũng mới qua đời (thông tin từ blog của anh Lê Hồng Giang) vì ung thư cổ họng từ một thời gian. Tôi kịp gặp anh Châu một tuần trước, trong khi không kịp gặp được ông Phong một lần nào. Anh Châu được Huy chương Fields thực sự là điều mừng không thể tưởng tượng nổi, chẳng phải mừng cho nền khoa học hay sự phát triển của Việt Nam, mà mừng vì cảm thấy một người mình có liên hệ đã đạt đến một đỉnh cao khoa học. Ông Phong ra đi là một sự mất mát lớn; nếu không có bệnh có lẽ ông có thể sống và cống hiến nhiều hơn cho khoa học kinh tế và lịch sử Việt Nam. Có lẽ ông là người có cống hiến thuộc bậc nhất cho lịch sử Việt Nam, lịch sử kinh tế Việt Nam, và kể cả kinh tế học Việt Nam thời hiện đại.

Ngày trước, trong số những câu thơ Đường bố tôi rất thích, có hai câu này trong bài Biệt Đổng Đại của Sầm Tham, nay nghĩ đến tất cả những người có để lại di sản nghiên cứu khoa học mà trích lại đây:

"Thập lý hoàng vân bạch nhật huân
Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân
Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân."

Trong truyện Thần điêu hiệp lữ của Kim Dung có nhân vật Lý Mạc Sầu, dễ là không liên quan gì.

Friday, August 6, 2010

Thử suy nghĩ về giáo dục ở Việt Nam

Thời gian gần đây tôi dành thời gian sống ở Việt Nam, và dĩ nhiên là nghe rất nhiều ý kiến chê hệ thống giáo dục của Việt Nam, tất cả đều đánh giá ở mức rất xấu trở xuống. Vì thế hôm nay tôi bắt đầu một chuỗi bài mở trên blog để sắp xếp suy nghĩ của mình về vấn đề này. Tôi rất hoan nghênh mọi người vào bình luận, và xin nói trước là sẽ tự tiện lấy ý của mọi người vào trong thân bài của tôi, tất nhiên có trích dẫn nguồn.

I. Suy nghĩ đầu tiên: Việc thay đổi hệ thống giáo dục từ gốc đến ngọn là vô cùng cần thiết, cần làm mạnh và ngay lập tức. Những lý do có rất nhiều, giở bất cứ tờ báo nào ra cũng thấy nhan nhản. Thường thì những chính phủ có trách nhiệm đều sẽ phải đặt vấn đề này. Chính phủ và Bộ Giáo dục ở Việt Nam cũng đã đặt câu hỏi về vấn đề này từ lâu. Tôi đoán bạn đọc hầu hết cũng đồng tình, nên không đi sâu vào suy nghĩ này nữa.

II. Suy nghĩ thứ hai: Cách tốt nhất để thiết kế và thực hiện sự thay đổi là thuê một công ty tư vấn đỉnh cao làm một dự án từ đầu cho đến cuối, cộng với sự tham vấn của Ngân hàng Thế giới, và vận động nguồn lực một phần từ ngân sách, phần khác từ các tổ chức phát triển nước ngoài. Có thể nhiều bạn đọc không đồng tình, nhưng tôi nghĩ đây là cách chuyên nghiệp nhất, dễ thành công nhất, vì sẽ có những cá nhân và tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm, có phản biện chất lượng, có thông tin minh bạch, có quản lý hiệu quả công tác thực hiện. Một khoản 10-20 triệu USD để có thể làm tốt hệ thống giáo dục là một cái giá quá hời cho đất nước. Hơn nữa, cũng sẽ có "bánh" để "chia", để dàn xếp chuyện chính trị cục bộ. Và cũng sẽ đảm bảo có "kinh nghiệm thực tế" Việt Nam, không sợ kết quả không phù hợp với hoàn cảnh trong nước.

Nhưng tất nhiên là nói chơi như vậy, chứ cũng không thể vượt qua được các rào cản tầm cỡ quốc gia để thực hiện cách này. Vì không thể mời tư vấn chuyên nghiệp, nên vẫn có chỗ cho các suy nghĩ khác của tôi :-).

Tạm thời cứ đặt gạch ở đây đã, sau sẽ viết thêm.
III. Suy nghĩ thứ ba: Tháp dân số đặc biệt của Việt Nam, và hoạt động của thị trường giáo dục.

IV. Suy nghĩ thứ tư: Hoạt động của thị trường giáo dục và các hạn chế về hành chính, chính trị, và văn hóa của xã hội Việt Nam.

V. Suy nghĩ thứ năm: Chữ tín, quy tắc và sự đảm bảo chất lượng, đối chọi với mở cửa thị trường.

VI. Suy nghĩ thứ sáu: Rào cản về ngân sách và hành chính công.

VIII. Suy nghĩ thứ bẩy: Khả thi chính trị.

Monday, July 13, 2009

Về tình yêu nước - phần II

Tôi viết tiếp về tình yêu nước ở đây, một phần để hồi đáp lại các mẩu bình luận trong bài trước, một phần để tự mình suy nghĩ và tìm hiểu thêm theo hướng này.

Nói đến lý tính của tình yêu nước, thì khung cảnh và hệ lụy sẽ khác với những cách giải thích dựa vào cảm tính. Có thể cảm tính chính là nội dung chủ đạo của tình yêu nước (giống như nhiều tình yêu khác), và tôi hoàn toàn tán thành với quan điểm có rất nhiều khái niệm, ý niệm cần phải có sự trải nghiệm, thậm chí cần có giác ngộ thì mới hiểu được, chứ con đường giải thích bằng ngôn ngữ sẽ chỉ đi được đến giới hạn của ngôn ngữ mà thôi (mà ngôn ngữ của tôi lại là một thứ ngôn ngữ nhập nhằng mông lung nữa). Tuy vậy, có những điểm khác chỉ thuộc về phạm vi của cách giải thích lý tính.

Thứ nhất, lý tính của tình yêu nước có thể trả lời câu hỏi yêu nước có phải là điều bắt buộc về mặt đạo đức không. Vì cảm tính dĩ nhiên thuộc về phạm vi cá nhân (chính vì thế mới có những trải nghiệm cảm tính không thể truyền thụ hết bằng ngôn ngữ được - mỗi người sẽ luôn có cảm nhận riêng), nên cảm tính cũng chỉ có thể đưa ra khuôn khổ đạo đức cho từng cá nhân mà thôi. Một quy tắc đạo đức cho số đông tất yếu phải dựa vào phương tiện cộng hưởng và hợp tác của số đông, tức là ngôn ngữ. Mà để có thể diễn đạt, truyền thụ và quan trọng hơn là tranh luận và thuyết phục về quy tắc đạo đức được, thì quy tắc cần nằm trong phạm vi lý tính. Bài "Quê hương" hay nhiều tác phẩm nghệ thuật khác rất hay, song nó không đủ cho một khuôn khổ đạo đức.

Như vậy, có khuôn khổ đạo đức của tình yêu nước không? Câu trả lời cho đến giờ của tôi là "Không", hoặc là "Rất mờ nhạt". Mờ nhạt, theo nghĩa là xã hội có thể trông đợi một người X quốc tịch nước A làm một chút gì đó cho nước A, mà nói đến nước A ở đây nghĩa là nói đến dân cư của nước A, qua đó là lịch sử, văn hóa nước A; tuy vậy, sự trông đợi này hoàn toàn mang tính bị động. Trông đợi khác với không trông đợi, ở chỗ là trông đợi thì có thể dẫn đến thỏa mãn (khi X xây trường học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn ở nhiều nước, trong đó có A), và cũng có thể dẫn đến thất vọng (khi X xây trường học cho trẻ em hoàn cảnh khó khăn ở nhiều nước, trong đó không có A vì chi phí cho tham nhũng nhiều quá). Nhưng nó chỉ có thể dừng lại ở mức thất vọng, như là một cảm giác của cá nhân : xã hội không thể dựa vào sự trông đợi "mờ nhạt" này mà lên tiếng chỉ trích hành động của X, coi là không yêu nước (có thể X không bận tâm vì sự quy chụp này), và chỉ trích như thế là thiếu đạo đức (chắc X sẽ phiền lòng).

Có một số ngoại lệ cho suy luận đơn giản này; mà có lẽ nên gọi là trường hợp đặc biệt chứ không phải ngoại lệ. Thứ nhất, tôi nghĩ đến đạo đức chiến tranh, trong đó gắn liền với cái chết. Trong chiến tranh, nhất là những cuộc chiến tranh toàn diện có một phần rất lớn thành phần dân chúng tham gia (chưa đả động đến lý do tại sao lại có chiến tranh như thế), ít có chỗ cho sự trung tính. Mỗi cá nhân có thể theo một bên, nhưng khó có thể tách biệt hoàn toàn ra ngoài cuộc chiến. Vì thế, có thể có những cách diễn giải về việc "không yêu nước" sang thành "đi ngược lại lợi ích đất nước". Đây là luận điểm cơ bản của hầu hết những sự quy chụp của chính quyền Bush ở Mỹ thời gian 2001-2008 đối với những quan điểm phản chiến. Tuy vậy, phải nói là nước Mỹ không tham gia vào một cuộc chiến toàn diện, nên trong trường hợp này quy chụp như thế lệch lạc về mặt đạo đức. Nhưng quan điểm này có thể dùng để hiểu những cuộc Thế chiến I - II, chiến tranh Triều Tiên, các cuộc chiến tranh của Israel, chiến tranh can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, vân vân. (Có lẽ đi hơi quá xa vào trường hợp này rồi, quay lại thôi.)

Trường hợp thứ hai tôi nghĩ đến gắn liền với khái niệm "nợ nước nhà", mà ta tạm coi rằng quan hệ "nợ" có nguồn gốc nguyên thủy hơn, và có sức mạnh đạo đức tự có trước quan niệm về tình yêu nước. Đứng từ góc nhìn xã hội cấu thành từ các cá nhân, chứ không phải cá nhân xuất thân từ xã hội, thì tương đối khó bảo vệ quan điểm có "nợ" với một khái niệm "quốc gia", mà bản thân nó tương đối trừu tượng và bao gồm những yếu tố liên tục thay đổi, như dân cư, văn hóa, nếu không nói đến chính quyền, lịch sử, thậm chí là lãnh thổ. Món "nợ" ở đây không có cơ sở tự do tự quyết, vì nếu nó tồn tại, thì đó là sự tồn tại dựa vào một quan niệm xã hội áp đặt lên cá nhân từ khi cá nhân tham gia vào xã hội, mà không cho cá nhân một sự lựa chọn nào. Một ví dụ là món nợ của người Gia Tô giáo (catholics) với Nhà thờ La Mã, trong đó người được sinh ra đã được đưa vào quan hệ nợ - trả với một hệ thống tôn giáo, giáo điều, mà không được có lựa chọn nào cả. Nếu vẫn chấp nhận khái niệm "nợ" mà không cần cơ sở tự do tự quyết, thì cá nhân tự dứt mình khỏi quan hệ "nợ" này nghiễm nhiên có sự ủng hộ của quan điểm tự do tự quyết, và khó có thể kết luận rằng việc này đi ngược hẳn lại quy tắc đạo đức về quan hệ "nợ" được.

Để có được cơ sở cho quan điểm "nợ nước", có lẽ phải đứng từ góc nhìn mỗi cá nhân xuất thân từ sản phẩm của xã hội, không có nhiều quyền tự quyết tự có, và món nợ với xã hội hay đất nước là tất yếu, chắc chắn phải trả. Như thế, nếu cá nhân vẫn quyết định dứt mình khỏi quan hệ "nợ" này, thì xã hội (mà ai đứng ra?, quy định như thế nào?) có quyền coi cá nhân đã vi phạm đạo đức, và có thể trừng phạt. Song, vấn đề lại là nền tảng đạo đức như vậy dường như thuộc hoàn toàn về xã hội "toàn diện" này, và quy tắc đạo đức như thế không mang tính đại diện cho con người, mà chỉ đại diện cho xã hội đó. Câu hỏi sẽ là, có thể chấp nhận một cách khách quan một quy tắc đạo đức như vậy không? Ví dụ ở phạm vi nhỏ là một số gia đình ở Arab Xê Út có xu hướng gả con gái rất rất sớm, và hoàn toàn phụ thuộc vào quyết định của người cha. Nền tảng đạo đức như thế có thể trụ vững trong môi trường nhất định, thậm chí là trụ một thời gian dài, nhưng tôi không thấy thuyết phục về tính khách quan hay tính "hoàn vũ" của một quy tắc như thế.

Xét đến các trường hợp, thì cũng cần so sánh với quy tắc đạo đức của những "tình yêu" khác. Chẳng hạn, tình yêu trong gia đình. Tôi nghĩ là nền tảng đạo đức của gia đình mạnh hơn nhiều, một phần vì ở đây tất cả những người tham gia vào đều rõ ràng, và ít thay đổi. Nhờ đó, những hành động của mỗi cá nhân trong từng quan hệ (bố mẹ/con cái/các quan hệ khác) cũng rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Trong phạm vi này, có thể chấp nhận sự chung sống của "tình yêu" và "nợ" dễ hơn so với trong trường hợp "tình yêu nước". Chủ đề này có lẽ nếu muốn bàn thì cần rất nhiều thời gian nữa.

Đặc điểm thứ hai của việc phân tích lý tính của "tình yêu nước" là sự quy tội và xét xử công bằng tội "phản quốc". Trong một chừng mực nào đó (tức là không kể ngoại lệ), nếu coi "không yêu nước" không có vấn đề đạo đức nào, lại càng không có vấn đề pháp lý, thì không thể bị kết tội. Nhưng tội "phản quốc" vẫn có thể có, và vẫn có thể bị kết tội, tùy theo mức độ nặng nhẹ.

Tạm thời tôi dừng bài này ở đây đã, có thời gian sẽ viết thêm.

Monday, July 6, 2009

Về tình yêu nước

Từ lâu tôi đã muốn viết một chút về tình yêu nước, song thường là không đủ tập trung và ngần ngại sẽ bị cộng đồng bạn đọc Việt Nam phê phán gắt gao. Hôm nay nhân đọc được bài này trên blog của Lê Minh Phiếu, nên tôi viết thêm một chút.

Từ hơn mười năm nay, tôi vẫn không tự đưa ra cho mình một câu trả lời tại sao người Việt thường tự nhủ phải yêu nước, và tự nhận rất yêu nước. Có những câu trả lời dễ dãi, như việc coi đó là lẽ tự nhiên của mỗi công dân, không cần phải bàn đến, hay thậm chí là lời dậy của cha mẹ, tổ tiên, Bác Hồ (Điều 1 lời dậy của Bác cho nhi đồng: Yêu tổ quốc, yêu đồng bào.) Những câu trả lời này thường chỉ chuyển câu hỏi sang một lĩnh vực khác, ví dụ như là trách nhiệm của công dân, của con cái đối với cha mẹ, của con cháu đối với tổ tiên, của nhi đồng đối với Bác Hồ. Thường là đi về những lĩnh vực này còn khó tìm câu trả lời hơn nữa, nên tôi cũng không nhắc tới ở đây.

Có một điểm ít được nhắc tới trong ngữ cảnh Việt Nam, là khi nói đến Yêu Nước thì cần nói đến Nước là gì (dĩ nhiên là khác gia đình, dòng họ, bạn bè, quyền sở hữu), rồi cần nói đến Yêu Nước là gì (dĩ nhiên khác với yêu gia đình, yêu vợ chồng, yêu bạn bè, yêu quyền sở hữu). Tôi nhớ giáo dục tuổi trẻ và cả các thảo luận nghiêm túc hơn ở Việt Nam thường nhắc đến những cảm giác đi kèm với Nước (Quê hương là chùm khế ngọt), chứ không đi vào phân tích lý tính. Có thể đó là cách hợp lý nhất, nhưng tôi cứ thử làm cả cách ít hợp lý hơn xem sao.

Một nước, trong phạm vi quan hệ quốc tế, thường được hội tụ bởi ba yếu tố: một dân tộc, một lãnh thổ, và một chính phủ. Trong phạm vi rộng hơn về quan điểm gắn bó của con người (vì ta nói đến tình yêu), tôi nghĩ là có thêm yếu tố lịch sử (bao gồm lịch sử văn minh) và yếu tố văn hóa (bao gồm nền văn minh, tôn giáo). Không rõ tôi còn thiếu gì nữa?

Xét theo từng yếu tố, thì đều có thể thấy tình yêu nước khó có thể có vị trí tột cùng không điều kiện trong các thang bậc gắn bó của cá nhân. Bắt đầu bằng chính phủ, một chính phủ thực sự tốt khi đại diện được cho lợi ích của đại bộ phận dân chúng, và sẵn sàng bảo vệ lợi ích tối thiểu của bất kỳ một nhóm thiểu số nào. Nhưng ngay cả khi có một chính phủ tối ưu như vậy, thì sự gắn bó của cá nhân đối với chính phủ chỉ ở mức người được bảo vệ đối với người bảo vệ, hơn chút nữa là ở mức người trong nhóm bảo vệ với nhóm bảo vệ (chưa nói đến vấn đề chia sẻ các giá trị văn hóa). Dĩ nhiên cá nhân có thể rất quý người bảo vệ, song tình yêu này khó so sánh được với tình yêu dành cho gia đình.

Tiếp theo là lãnh thổ. Càng ngày, tôi càng ít hiểu được sự gắn bó sâu nặng của cá nhân với quan niệm lãnh thổ chỉ vì lãnh thổ - ở đây không phải là sở hữu của cá nhân, có chăng là sở hữu của một số cá nhân khác trong cùng cộng đồng, trong cùng một nước. Lãnh thổ có thể chia sẻ cùng cá nhân một lịch sử, một nền văn hóa. Trong tất cả các trường hợp này, thì sự gắn bó vào lãnh tổ chỉ phụ thuộc qua sự gắn bó vào dân chúng, vào lịch sử, vào văn hóa mà thôi, chứ không phải là sự gắn bó trực tiếp với lãnh thổ. Về yếu tố lãnh thổ, tôi nghĩ tới các tranh chấp về biển Đông, và trước đây là thác Bản Giốc. Những tranh chấp này nếu được tuyên bố bắt nguồn từ tình yêu nước, thì tôi nghĩ là nó bắt nguồn cơ bản từ những gì lãnh thổ và lãnh hải nằm trong tranh chấp có thể đem lại cho dân cư, cho văn hóa, cho văn minh của một nước. Lịch sử đã chứng kiến nhiều quốc gia tham gia chạy theo lời vua chúa chinh chiến trên những mảnh đất vô ích để cuối cùng tiến tới diệt vong - lịch sử Trung Quốc nhiều vô kể ví dụ.

Có lẽ yếu tố dân chúng là yếu tố dễ tạo nên sự gắn bó với từng cá nhân nhất. Có nhiều cách lý giải bằng sự phát triển sinh học và tâm lý tại sao con người thường gắn bó với những nhóm người, những cộng đồng có chia sẻ nhiều điểm chung. Có thể coi sự gắn bó này là sự mở rộng của sự gắn bó gia đình, họ hàng, là sự thể hiện rộng của "gene ích kỷ" (Richard Dawkins). Tôi chấp nhận sự gắn bó này là một tình cảm cơ bản, không lý giải thêm. Tuy vậy, nó cũng làm ta dễ suy nghĩ đến những "lát cắt" khác khi nghĩ về con người, vì con người không chỉ khác nhau về quốc tịch. Nếu nhìn vào từng cá nhân trong một nước, những người vẫn va chạm và tranh chấp hàng ngày, thì người ta có nghĩ đến sự gắn bó trừu tượng đối với toàn bộ dân chúng của một nước hay không? Hai môi trường này khác nhau, và dễ tạo ra những cảm giác trái ngược: một dân tộc có thể bị chia cắt tan nát trong nội bộ, song lại dễ dàng thống nhất thành một khối chống ngoại xâm, giống như người Nhật trong nhiều thời kỳ.

Song song với sự gắn bó với dân chúng, mỗi cá nhân cũng có sự gắn bó với lịch sử, với văn hóa. Song tôi nghĩ là thiếu yếu tố dân chúng thì hai yếu tố này chỉ dừng ở mức cá nhân, và chỉ có thể dẫn đến sự mai một. Điều này xuất hiện trong những cá nhân sống đơn lẻ tách biệt khỏi cộng đồng cùng văn hóa, lịch sử (như là các cá nhân sống ở ngoài nước, ngoài cộng đồng) - có thể một phần họ chọn như vậy, một phần khác, là chính sự lựa chọn này xóa đi sự gắn bó của họ. Như vậy không có nghĩa là không có cộng đồng lưu vong nào thành công trong việc lưu giữ "tình yêu nước" khi không có một nước thực sự. Ví dụ mạnh mẽ nhất là cộng đồng Do Thái trong gần 2 ngàn năm trước sự thành lập của nhà nước Israel năm 1947. Cộng đồng Do Thái có lẽ là ví dụ đáng kinh ngạc nhất của tình yêu nước dựa chủ yếu vào sự gắn bó về văn hóa, về nền văn minh cổ điển cách hàng thế kỷ, về tôn giáo đơn thần đầu tiên, về một thứ chữ viết cổ mà cộng đồng tự khôi phục lại thành tiếng nói sống. Trong suốt hai ngàn năm, người Do Thái luôn lưu giữ tình yêu nước như một bộ luật chỉ nam cho mỗi thành viên trong cộng đồng; bộ luật này vừa mang tính bắt buộc đối với những người tham gia, vừa mang lại lợi ích đáng kể cho họ. Nhưng ngoài cộng đồng đặc biệt này, hầu hết những cộng đồng không gắn vào một bộ phận dân chúng lớn sẽ dần dần bỏ đi cái "tình yêu nước" họ có thể có lúc đầu.

Một nhận xét nữa về sự gắn bó với đại bộ phận dân chúng của một nước, là ngay cả tình cảm này khó có thể được đặt lên trên tuyệt đối so với nhiều tình cảm gần gũi con người với con người khác. Có thể là trong những tình huống, thời điểm lịch sử nhất định, người ta nhìn thấy hành vi con người đi đúng theo chiều hướng khẳng định tình yêu nước, song những hành vi này cũng có thể hiểu là sự cộng hưởng của rất nhiều tình cảm gắn bó đối với những cá nhân khác gần gũi mình. Ví dụ, cá nhân A có thể tự hy sinh, và được tôn vinh như một anh hùng của cả nước, song có thể hiểu là cá nhân A hành động như vậy vì cá nhân B, C, D có quan hệ gắn bó với mình. B, C, D không nhất thiết là thành viên cùng gia đình, mà có thể là những cá nhân trong cùng một tổ chức yêu nước, trong đó họ truyền cho nhau cùng một lòng yêu nước, và thực sự lòng yêu nước của họ được trau dồi qua chính "tổ chức xã hội nhỏ" của họ, nhờ đó sự gắn bó cá nhân được nhân lên cao. Vì thế, những hành vi mang tính hy sinh vì cộng đồng trong những tình huống nhất định không thể phủ định quan điểm chung rằng sự gắn bó với toàn bộ dân chúng của một nước là một sự gắn bó tương đối lỏng lẻo, so với sự gắn bó cá nhân với cá nhân. (Tôi tin vào những ví dụ các chiến sĩ yêu nước quả cảm hy sinh mình để cứu đồng đội, hơn là những ví dụ anh hùng xả thân vì nước như Lê Văn Tám.)

Nhìn trên các yếu tố này, tôi nghĩ là thành phần căn bản đối với tình yêu nước của người Việt Nam, nếu không phải là một tôn giáo (hay giáo điều) có ấn tượng và ảnh hưởng sâu sắc đến mức vượt quá cả nhận thức của cá nhân (rằng đấy là một giáo điều), thì phải có liên hệ rất sâu đậm đến sự gắn bó của mỗi cá nhân người Việt với khái niệm toàn bộ cộng đồng dân chúng Việt Nam. Nếu một cá nhân tự cảm thấy sự gắn bó sâu nặng này, thì tình yêu nước là tự có, tự thân, và tự nguyện. Nếu cá nhân không có sự gắn bó sâu nặng như vậy, thì tình yêu nước trở thành một sự ngộ nhận gây dựng bởi chính nền văn hóa, mang tính giáo điều (chỉ có "dậy", không có "học"), và như vậy cũng không thể học được, không thể trải nghiệm, không thể trau dồi và không thể vực dậy được.

Tôi vẫn chưa trả lời được câu hỏi của mình, vì không hiểu là trong số người Việt Nam, mức độ gắn bó với dân chúng Việt Nam nói chung như thế nào?


Bài này viết chưa đâu vào đâu, để lúc khác sẽ viết thêm phần 2.

Tuesday, June 23, 2009

Rủi ro lạm phát ở Việt Nam - phần II

Anh Vũ Hoàng Linh có bình luận trong bài trước về lạm phát ở Việt Nam, tôi trích lại đây để trả lời.
Linh said...

Nói thêm vài ý sau khi đọc: chưa hiểu Quốc Anh ngoại suy theo cách nào nhưng phải thấy là năm 2009 không như 2008 bởi trong 2009 có gói kích cầu rất lớn được đưa vào sử dụng, và tác động của gói này sẽ mạnh hơn trong giai đoạn cuối năm, do đó khả năng lạm phát sẽ cao hơn so với việc ngoại suy căn cứ vào trend thay đổi lạm phát các tháng trong năm vào những năm bình thường.
Thứ hai là QA viết "nhiều người nghèo khác (sản xuất lương thực thực phẩm chẳng hạn) sẽ tăng thêm sức mua." nhưng nếu nhìn vào bảng của QA thì giá lương thực cũng chỉ tăng tương đương với mức tăng lạm phát nói chung, do đó không thể nói người sản xuất LTTP có lợi. Đó là chưa kể có thể có sự khác biệt giữa chỉ số mà người SX nhận được với chỉ số giá tiêu dùng. Nếu chỉ số PPI cho LTTP thấp hơn CPI thì rất có thể lợi ích của việc tăng giá LTTP không đáng kể và không đủ bù đắp thiệt hại do lạm phát.

Về ý thứ nhất, cái mốc tìm ra lời giải đáp chính là tâm điểm các cuộc tranh luận giữa những người tin vào chính sách kiểu Keynes và những người hồ nghi. Cuộc tranh luận sẽ quay về việc nhận định có "output gap" hay không, tức là cầu có bị thiếu hụt về mặt cơ cấu so với cung hay không. Điển hình phân tích của một người K (Keynes, Krugman) là sự công nhận khoảng cách này, và công nhận ảnh hưởng to lớn của nó đến phúc lợi xã hội trước mắt (Keynes nhấn mạnh tầm quan trọng của short run khi nói: "In the long run we are all dead"), và từ đó cần thiết phải có chính sách kích cầu tài khóa (khi mà chính sách tiền tệ khó có tác dụng nữa). Ngược lại, điển hình phânt tích của một người C (Chicago, không phải Communist) là output gap nếu có cũng không phải là yếu tố cơ cấu, nên để thị trường tự điều chỉnh, và chắc chắn trong long run thì thị trường sẽ điều chỉnh được (từ đó, Keynes mới có câu nói về long run death).

Anh Lê Hồng Giang cũng đã có một chùm bài giải thích về kinh tế tiền tệ vĩ mô, mà tôi vẫn còn chưa có dịp đọc (nói là kinh tế tiền tệ vĩ mô, vì cái tên "monetary economics" hiện giờ ngày càng có xu hướng chỉ các nghiên cứu về bản chất sự cần thiết của tiền tệ, đi rất sâu về mặt mô hình vi mô). Theo những gì tôi biết, thì hai cách nhìn K và C nói trên khác nhau ở điểm có công nhận giá cả điều chỉnh nhanh (cách nhìn C) hay là điều chỉnh chậm chạp (cách nhìn K) (cho các bác học kinh tế: mô hình phải có sticky price/sticky information thì mới có non-neutrality of money). Nếu giá cả điều chỉnh nhanh, thì không có lý gì sẽ có khủng hoảng kéo dài. Nếu giá điều chỉnh quá chậm, thì ảnh hưởng ngắn hạn của một khoảng output gap lớn sẽ rất cao. Đây chính là mấu chốt vấn đề khác biệt về mô hình và quan điểm. Về bằng chứng thực tế, vẫn còn có nhiều quan điểm, phần lớn đồng ý rằng giá cả có phần chậm, song bất đồng về mức độ chậm có đủ để ảnh hưởng đến suy thoái ở tầm vĩ mô không (nói đến suy thoái thôi, khủng hoảng thì tôi chưa rõ). Tùy vào cơ sở quan điểm, K thường đề xuất can thiệp mạnh, mặc dù cũng không thể phủ nhận rủi ro của "the grabbing hand", còn C đề xuất can thiệp tiền tệ và tránh vai trò chính phủ.

Quay lại vấn đề kích cầu ở Việt Nam, tôi nghĩ là thực sự có output gap rất lớn từ việc suy sụp xuất khẩu. Dĩ nhiên là thị trường có thể điều chỉnh, nhưng thị trường ở Việt Nam vốn đã chập chững, thiếu các yếu tố ổn định, thiếu thông tin, thiếu hội nhập quốc nội, nên tôi nghĩ là ảnh hưởng ngắn hạn sẽ nặng nề. Và vì output gap lớn, nên kích cầu sẽ ít có khả năng ảnh hưởng đến lạm phát (phù, ba đoạn rồi mới trả lời được câu hỏi thứ nhất của bác Linh).

Phân tích thêm, kích cầu của Việt Nam chắc sẽ không rơi đúng vào những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất (từ xuất khẩu chẳng hạn). Kích cầu chắc sẽ được nhằm vào ngành xây dựng, là ngành không xuất khẩu mà lại nhập khẩu nhiều, và vì thế ảnh hưởng cũng sẽ bị rơi ra ngoài Việt Nam (Việt Nam nhập thiết bị, commodities từ Trung Quốc ?), có thể tạm gọi là "thực hiện nghĩa vụ quốc tế", vốn cũng không nên than phiền nhiều, vì các gói kích cầu của các nước khác cũng sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam. Nhưng không vì thế mà kích cầu có thể tạo sức ép mạnh lên lạm phát được: về mặt bằng chung, cầu vẫn sẽ tương đối thấp hơn cung, nên sẽ có sự hoán đổi giữa các ngành là chính, và giá tương đối giữa các ngành sẽ được điều chỉnh, chứ không phải là mặt bằng giá chung tăng lên. Nhất là phần lớn lao động trong xây dựng là lao động trình độ thấp, đàn ông (chính vì thế mà kích cầu qua xây dựng có tác dụng ổn định, an sinh xã hội giúp người nghèo), nên hoán chuyển ngành tương đối dễ dàng. Kết quả theo tôi sẽ là sự tăng giá tương đối của ngành này (hay các ngành được kích cầu) so với những ngành yếu hơn (các ngành bị thiệt thòi về output gap), chứ mặt bằng giá chung thì không có nhiều lạm phát.

Nói như vậy, không có nghĩa là tôi hoàn toàn ủng hộ kế hoạch kích cầu ở Việt Nam. Tôi chỉ nghĩa là trong thời điểm hiện tại nó chưa ảnh hưởng mấy đến lạm phát. Kinh nghiệm 2007-2008 cho thấy quá rõ là với việc thả lỏng tín dụng, nhất là tín dụng Nhà nước cho các Tổng công ty, thì lạm phát sẽ nhẩy vọt thế nào.

Tạm thời thế đã, còn nguyên ý thứ hai của bác Linh xin để bài khác sẽ viết thêm sau. Mời các bác thảo luận thêm về chuyện dự đoán lạm phát.

Monday, June 22, 2009

Rủi ro về lạm phát ở Việt Nam

Bài này tôi đã bắt đầu viết từ trước đây 1 tháng, mà vì lười chuyển bảng sổ liệu thành tranh nên đành để lai rai mãi đến bây giờ. (Đăng lên blog rất mất công, vì phải chuẩn bị bảng tử tế trên Excel, in ra .pdf, crop margin, rồi chuyển sang .jpg !)

Nhiều người vẫn lo ngại về khả năng bùng nổ lạm phát trở lại nếu kích cầu quá mức, vì những nguyên nhân lạm phát từ cấu trúc nền kinh tế vẫn còn đó. Trong thời gian trước mắt, tôi không thấy quan ngại lắm. Chỉ nên bắt đầu sợ lạm phát khi bắt đầu có sự phục hồi; mà theo tôi còn chưa đến thời điểm đó.

Tình hình kinh tế vẫn còn tương đối ảm đạm, nếu có tín hiệu tích cực trong khu vực Đông Nam Á cũng chưa hẳn là dấu hiệu của sự phục hồi, mà nhiều khả năng chỉ là những đoạn "vấp lên" trong quá trình đi xuống. Nếu như trong thời gian những tháng đầu năm, kỳ vọng về cuộc khủng hoảng quá bi quan, thì đến giờ thị trường có thể chỉ đang khôi phục chút ít sự lạc quan trong kỳ vọng, dẫn đến một số tín hiệu tốt. Hơn nữa, quá trình bán sạch inventory chắc cũng đã kết thúc, kèm theo sau đó là việc nhà sản xuất bắt đầu sản xuất cầm chừng trờ lại: điều này cũng gây nên chút tín hiệu tốt, song nó không hề đánh dấu sự phục hồi.

Bây giờ ta thử xem số liệu lạm phát của Việt Nam từ đầu 2009 nói lên điều gì. Hiện giờ, lạm phát ở mức thấp, từ tháng 12/08 đến tháng 5/09 mới là 2.12%, nếu ngoại suy ra cả năm thì lạm phát sẽ là 5.17%. Mức độ này thuộc dạng thấp đối với Việt Nam, nhưng cũng không thấp như thời kỳ 2002-2004. Có xu hướng lạm phát đang tăng chút ít: chỉ số lạm phát hàng tháng đang tăng dần từ Tháng 2 đến tháng 5. Nhưng nếu tính ngoại suy từ giai đoạn tháng 1 đến tháng 5, chứ không phải từ tháng 12/2008, thì lạm phát cả năm cũng chỉ là 5.49%. Nhìn chung, dự đoán của tôi là nếu không có cú sốc nào mới, lạm phát cả năm sẽ nằm trong mức 6%.

Nếu nhìn sâu hơn vào chỉ số giá từng ngành, có thể thấy tăng nhiều nhất là giá xây dựng và dịch vụ. Ngược lại, giá giao thông và bưu chính đi xuống khá nhiều, theo tôi là do giá xăng trong nước giảm (trễ so với giá xăng thế giới) và do sự cạnh tranh tương đối có ích trong lĩnh vực bưu chính viễn thông. Trong thời gian tới, có thể dự đoán là giá xăng lại tăng (theo đuôi giá thế giới), song giá bưu chính viễn thông sẽ không đổi nhiều.

Nhìn lại, hiện giờ cũng chẳng có gì đáng nói từ số liệu lạm phát, ngoại trừ dự đoán rằng cả năm 2009 lạm phát dừng ở mức vừa phải. Ở mức này, tôi không nghĩ thiệt hại phúc lợi xã hội của lạm phát là cao. Ngoại trừ nó là một thứ thuế đánh vào tiền mặt, và tạo ra thiệt hại phúc lợi theo kiểu thuế (thuế 5-6% thì thiệt hại thuế cũng ít thôi), thì lạm phát chỉ có ảnh hưởng tái phân bổ trong xã hội, từ những người thu nhập trong ngành lạm phát chậm sang những người thu nhập trong ngành lạm phát cao. Một bộ phận người dân nghèo có thu nhập cố định sẽ bị ảnh hưởng nhiều (ví dụ như công nhân, viên chức nghèo, người về hưu, quân nhân, vv.), song cũng có nhiều người nghèo khác (sản xuất lương thực thực phẩm chẳng hạn) sẽ tăng thêm sức mua.

Nhận xét cuối cùng, trong bảng ở trên tôi để cả chỉ số vàng và dollars, vì lười, nhưng phải nói là phép ngoại suy trên giá vàng và dollars sai về cơ bản, vì những tỷ giá đó được giữ một cách ổn định (stationary series) chứ không giống lạm phát (integrated series - kiểu random walk). Từ đầu năm đến giờ vàng và dollars tăng khá nhiều, cho thấy sức ép lên tỷ giá đồng Việt Nam như đã viết trước đây. Tùy vào 3 kịch bản, mà các chỉ số giá này sẽ biến đổi khác nhau, không biết đâu mà lần.

Wednesday, June 10, 2009

Lạm phát và chi tiêu công

Còn quá nhiều chuyện muốn viết trên blog mà không có thời gian, song có bài này tôi mới đọc thì phải viết ngay, một phần vì có liên quan đến thảo luận trên blog của anh Lê Hồng Giang về tiền tệ và lạm phát. Đây là bài viết ngắn của Casey Mulligan trên blog Economix của NY Times. Bài viết điểm lại quan điểm chi tiêu công nhiều sẽ dẫn đến lạm phát cao. Đầu tiên nhắc đến phán đoán của Keynes trong "The Economic Consequences of Peace" về nước Đức nặng nợ sau Thế Chiến I, mà hậu quả là siêu lạm phát, đến nỗi dẫn đến thể chế Quốc Xã. Sau đó bài viết đưa ra quan sát thực chứng, từ nghiên cứu của chính Mulligan, rằng quan hệ giữa lạm phát và chi tiêu công là rất yếu; nếu có, đó là quan hệ giữa lạm phát với chi tiêu cho quân sự mà thôi. Một luận điểm giải thích là thời nay các chính quyền dễ dàng đánh thuế bằng nhiều cách, do đó không cần phải dùng đến thuế bằng lạm phát (seigniorage). Và mức nợ công hiện nay của nước Mỹ, cho dù là một phần không nhỏ của GDP, còn thua xa mức nợ mà nước Đức bại trận sau Thế Chiến I phải gánh vác.

Điểm đáng chú ý nhất đối với tôi là sự khác biệt giữa nội dung bài viết và ý thức hệ của Mulligan. Mulligan là giáo sư ở Chicago, và từ trước đến nay thường thể hiện quan điểm theo trường phái tự do (laissez-faire), phản đối vai trò nhà nước. Một trong những luận điểm quan trọng của trường phái này là ảnh hưởng không tốt của chi tiêu công, kể cả về mặt hiệu quả lợi ích, lẫn mặt ổn định kinh tế mà nội dung chủ yếu là sự ảnh hưởng xấu đến mức lạm phát. Như thế, bài nghiên cứu (và do đó là bài blog) của Mulligan phần nào đi ngược lại quan điểm ý thức hệ (phần nào thôi, vì tôi dám chắc Mulligan vẫn rất tin rằng chi tiêu công không có hiệu quả lợi ích). Tôi khâm phục sự liêm khiết về khoa học này của ông. Sự liêm khiết này, như trong tất cả các lĩnh vực khác, không phải dễ dàng mà có, mà giữ được.

Update: Viết xong bài mới nhớ ra một điểm quan trọng, là ở Việt Nam thì chi tiêu công quá đà đã dẫn đến lạm phát cao. Một phần quan trọng của chi tiêu công ở Việt Nam là chi tiêu của các Tổng Công ty/Tập đoàn Nhà nước, bắt nguồn từ việc vay nợ dễ dàng, nhiều ưu đãi. Hình thức này tự nó đã tăng tổng tín dụng trong nước lên nhiều, trong khi đó Ngân hàng Nhà nước lại không có đủ tự chủ để kiểm soát tình hình cung tiền. Vả lại, đến lúc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản, thì người gánh chịu là bộ phận lớn doanh nghiệp tư nhân/doanh nghiệp Nhà nước nhỏ, hậu quả là ảnh hưởng nặng đến tăng trưởng. Tham khảo từ các bài phân tích chính sách của trường Fulbright, tôi nghĩ đây là những gì đã xảy ra ở Việt Nam dịp 2007-2008.

Wednesday, June 3, 2009

Hạ giá đồng Việt Nam - tiếp tục

Hôm trước anh VHLinh và LHGiang có bình luận về bài viết Hạ giá Đồng Việt Nam của tôi, nay tôi tách ra thanh bài viết riêng để trao đổi thêm:


Linh said...

Tôi lại nghĩ việc hạ giá mạnh một lần là rất ít khả năng xảy ra. Thứ nhất, nó đi ngược lại các quan điểm được nêu ra từ trước về chính sách tiền tệ. Trong điều kiện người dân đã ít tin tưởng vào khả năng điều hành kinh tế (và cả chính trị) của chính quyền thì việc hạ giá trái với các tuyên bố trước kia sẽ càng khiến họ mất lòng tin hơn. Và khi đó họ sẽ đổ xô đi mua USD, có thể khiến đồng VND bị hạ giá hơn nữa dẫn tới mất kiểm soát.

Thứ hai là yếu tố tâm lý người dân. Người dân không quen với việc phá giá một lần mà có xu hướng đón đợi sự điều chỉnh giảm giá nhiều lần. Do đó nếu phá giá một lần thì chưa chắc người dân đã tin là phá giá một lần mà lại e rằng Nhà nước sẽ tiếp tục phá giá nữa.

Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?

May 20, 2009 12:35 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

giangle said...

@Linh:
"Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?"

Câu hỏi này rất hay và cũng liên quan đến expectation của người dân về việc liệu nhà nước có tiếp tục phá giá nữa hay không.

Tôi nghĩ giải pháp cho NHNN là không tuyên bố phá giá mà tuyên bố thay đổi qui chế vận hành của tỷ giá. Ví dụ mở rộng biên độ giao dịch và cho phép dịch chuyển central rate hàng ngày theo biến động của tỷ giá ngày hôm trước (flexible bands).

@QA: Tôi nghĩ một lý do nữa NHNN lưỡng lự chưa cắt lãi suất mạnh và phá giá VNĐ là lạm phát. Mấy tuần vừa rồi các NHTM phải tăng lãi suất huy động, chắc là đang thiếu liquidity chứ không phải vì cần huy động vốn để tăng tín dụng. Bóp nghẹt liquidity có vẻ là preferred policy của NHNN để chống lạm phát như hồi đầu năm ngoái.

May 20, 2009 11:12 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

Theo tôi, hiện giờ tỷ giá VND so với USD đang chênh vênh, có nghĩa một phần là Nhà nước đang “đánh bạc” rằng đồng USD sẽ giảm xuống so với các đồng tiền thong dụng khác. Nếu điều này xảy ra (hiện giờ đồng USD đã giảm chút ít so với mấy tháng trước), thì sẽ bớt đi nhiều áp lực lên VND, và mọi sự sẽ vẹn toàn. Lúc đó, chính phủ không phải phá giá, không phải thay đổi chính sách, sẽ có khoảng trống để áp dụng thêm chính sách tiền tệ, và có thể tự quảng cáo là bảo vệ thanh công (một lần nữa!) VND trước sức ép đầu cơ của nước ngoài. Bản than thị trường và người dân cũng sẽ có lợi: VND vẫn được giảm giá so với các đồng tiền floating khác (của các đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu), lại không chịu ảnh hưởng gì cả của sự bất ổn định khi có quyết định hạ giá, bất cứ là quyết định kiểu gì. Đây là viễn cảnh huy hoàng, có lợi cho mọi người (ở Việt Nam), và sẽ được tuyên bố và giải thích theo nhiều góc nhìn, thế nào tiện cũng được.

Viễn cảnh nửa vời, là mọi sự cứ diễn biến y hệt như hiện nay, tức là USD vẫn bấp bênh, VND vẫn bấp bênh, và do đó các chính sách tỷ giá và lãi suất vẫn bấp bênh. Tôi có viết một chút về lãi suất trên VFR số tới, hiện giờ báo chưa đăng nên chưa đưa lên blog được. Như hiện giờ, thì Nhà nước phải can thiệp một phần bằng chính sách hành chính, hạn chế quy đổi VND-USD, hạn chế giao dịch bằng USD, vv. Cũng là việc bất đắc dĩ, và chắc chắn ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh.

Viễn cảnh ảm đạm nhất, là USD lại quay lại chiều hướng cao giá như mấy tháng trước. Lúc đó, sức ép lên VND còn tăng cao, và khó có thể thấy khả năng Nhà nước giữ được mức tỷ giá như hiện giờ. Ở đây, đề xuất của anh Lê Hồng Giang là nới lỏng biên độ tỷ giá. Tôi không rõ có ổn không. Dù chênh lệch giữa giá chính thức và giá chợ đen hiện nay chỉ khoảng 3% (18,200 so với 17,700), khi nới lỏng biên độ thì biên độ mới phải rộng gấp 3 lần biên độ cũ. Con số 3 lần có lẽ sẽ được thị trường và người dân hiểu (một cách chính xác) không khác gì hành động hạ giá đáng kể, và sẽ gây nên chuỗi sự kiện (chain reaction) giống như trong trường hợp tuyên bố hạ giá.

Đối với long dân và niềm tin vào chính sách của Nhà nước, tôi nghĩ một kích bản dễ xảy ra là Quốc hội đột ngột chất vấn và yêu cầu hạ giá VND, các báo chí cũng đồng loạt đăng bài kêu gọi hạ giá để giúp xuất khẩu, và việc hạ giá chuyển ngay từ một chủ đề taboo thanh chủ để thời thượng trên tất cả các phương tiện thong tin đại chúng, từ chính quy cho đến ngoài lề. Kết quả là người dân cảm giác như chính mình đang đòi hạ giá VND, và chính phủ sẽ miễn cưỡng hạ giá/nới lỏng biên độ giao dịch. Đây không phải là lần đầu kịch bản như thế này xảy ra, và tôi nghĩ thực sự nó sẽ giúp ổn định nhiều khía cạnh kinh tế trong giai đoạn khó khăn này, trong trường hợp USD lại tăng giá.

Về câu hỏi phá giá bao nhiêu thì hợp lý: Có thể nếu black market premium hiện nay là 3%, thì không cần hạ giá đến mức 3% cũng vẫn củng cố được niềm tin của người cầm VND. Vấn đề là 3% thì Chính phủ vẫn chưa chịu hạ giá (vẫn cầm cự được), và sẽ chỉ hạ giá khi mà premium lên thêm một, hai điểm phần trăm nữa. Lúc đó, có lẽ hạ giá phải đến mức 4-5%.

Về vấn đề lạm phát, tôi nghĩ nó chưa phải là vấn đề đáng lo trong thời gian gần, cho dù đúng là phải theo dõi sát sao. Có lẽ tôi sẽ viết thêm về lạm phát trong một lần khác.

Cuối cùng, tình huống khó xử hiện nay và viễn cảnh nửa vời bấp bênh về tỷ giá làm tôi nhờ đến câu chuyện cái “cân kê” (gân gà) trong truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ngụy Vương Tào Tháo thua trận, muốn rút khỏi cuộc tranh giành Hán Trung với Ích Châu Mục Lưu Bị, song lại sợ bị yếu thế và hổ danh tiếng, suy nghĩ mãi không xong, nhân Hạ Hầu Đôn vào hỏi khẩu lệnh ban đêm, thấy bát canh gà mới buột mồm nói khẩu lệnh là “cân kê”. Quan tòng sự Dương Tu nổi tiếng thông minh, nghe thấy thế liền sai quân lính chuẩn bị hành lý rút lui, giải thích rằng gân gà nhai thì khó, mà bỏ thì không nỡ, song sớm muộn cũng sẽ phải bỏ thôi. Tào Tháo nhân vốn ghét Dương Tu hay phát ngôn quá giới hạn, mới ghép vào tội làm rối long quân mà đem Dương Tu ra chém. Rất đáng tiếc. Không biết thời nay nói nhiều về chủ đề taboo thì có số phận giống Dương Tu không.


Update: Chưa già đã lẫn, hôm nay viết xong đọc lại thấy quen quen, hóa ra là tôi đã viết những ý tương tự trong một bài trước rồi. Bạn đọc thông cảm là tuần vừa rồi tôi bị ốm, chắc vì thế mà đầu óc lộn xộn hết thứ tự thời gian, hì hì.

Tuesday, May 26, 2009

Có cần xấu hổ ?

Nhân sự kiện cựu thủ tướng Hàn Quốc Roh Moo-hyun tự sát, tôi có đọc một số bài viết trên blog của anh Linh anh Huy Đức về tính "biết xấu hổ". Hai bài viết này làm tôi nghĩ đến sự khác nhau giữa hai phương hướng cải tổ nền pháp trị và chất lượng thể chế của một quốc gia. Hai bài viết nói về vấn đề tham nhũng và hình phạt dựa trên góc độ Đạo đức; tương đồng với nó, là phương hướng cải tổ pháp trị bằng cách tôn cao nền đạo đức. Phương hướng thứ hai là cải tổ nền pháp trị bằng cách tăng cường động lực đối với con người cho các cơ chế pháp luật; các biện pháp này thường không động chạm vào nền tảng đạo đức.

Thường thường, người ta đề cao cả hai phương hướng trong việc xây dựng một nền chính trị sạch và hiệu quả. Việc đề cao cả hai như vậy cần bao gồm một giả thiết ngầm rằng hai phương hướng này bổ sung cho nhau, chứ không đối nghịch với nhau. Trong trường hợp "biết xấu hổ", tôi thấy có cả một chút đối nghịch giữa hai phương hướng này.

Cụ thể, có thể hiểu sự "xấu hổ" là một cá tính, mà mức độ của nó trong từng cá nhân có thể rất khác nhau. Cá tính này có thể có tương quan thuận (positive correlation) đến các cá tính khác cần thiết cho nền pháp trị, như sự trong sạch, liêm khiết, tính dám chịu trách nhiệm, vv. Chúng ta muốn những nhà chính trị có những cá tính cần thiết này: có lẽ là chúng quan trọng hơn bản thân tính biết xấu hổ.

Khi xã hội tôn cao nền đạo đức của tính biết xấu hổ, tôi đoán sẽ có một phần nhỏ chuyển từ "không biết xấu hổ" thành "biết xấu hổ", nhưng phần tác động lớn hơn nhiều là những người vốn đã biết xấu hổ sẽ cảm thấy tủi nhục hơn nữa về những việc "đáng xấu hổ". Những người biết xấu hổ trong các thể chế có dính líu đến những việc đáng xấu hổ sẽ phải dằn vặt thêm vì cảm thấy xấu hổ, có thể là vì chính những hành động sai trái rất nhỏ mà mình đã làm trong quá khứ (các bác có đọc truyện Tiên Trẩn trong Đông Chu Liệt Quốc?), có thể là vì hành động sai trái của người thân (Roh Moo-hyun), cũng có thể là vì những gì thường xuyên xảy ra xung quanh họ (ví dụ về những người từ quan về quê vô số kể). Cuối cùng, tác động chung đối với nền pháp trị là phần lớn những người biết xấu hổ (cũng là những người có nhiều năng lực hơn và trong sạch hơn) sẽ dần dần bị đẩy ra khỏi hàng ngũ chính trị, thay vào đó là những người ít nhậy cảm hơn với những việc "đáng xấu hổ". Vì thế, cho dù mặt bằng đạo đức, đo bởi độ nhậy cảm với những việc đáng xấu hổ, có thể được tôn cao lên, thì kết cục là chất lượng nền pháp trị lại đi xuống.

Không phải đi đâu xa, tôi nghĩ quá trình tiến hóa của thể chế chính quyền ở Việt Nam trong những năm 1990 có hơi hướng thể hiện xu hướng như vậy. Đạo đức của sự biết xấu hổ đã góp phần thay đổi cơ cấu lãnh đạo ở Việt Nam trong thời kỳ này. Ví dụ có rất nhiều, tương đối nhậy cảm nên không nêu ra được.

Ngược lại với việc tôn cao mặt bằng đạo đức, nếu như giảm tầm quan trọng của đạo đức xấu hổ, giảm sự suy xét hậu quả của việc làm thiếu trách nhiệm, thay vào đó là tôn vinh kết quả công việc có kết quả tốt và hiệu quả cao, thì liệu có thể đảo ngược xu hướng thay đổi cơ cấu như vậy không? Tôi không có câu trả lời chính xác: không phải quá trình nào cũng có thể đảo ngược đơn giản bằng cách đảo ngược nguyên nhân. Muốn trả lời chính xác, phương pháp khoa học nhất là thí nghiệm ngẫu nhiên. Trên thực tế, chúng ta không thể nào có sự ngẫu nhiên, cũng không thể có thí nghiệm.

Monday, May 25, 2009

Người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Mỹ

Đây là một bài tôi viết trên blog 360 độ cách đây một thời gian về người gốc Việt đầu tiên trúng cử vào Quốc hội Mỹ. Hôm nay vô tình thấy bài này trên BBC tiếng Việt, nên post lại đây để đối chiếu về dự đoán trong bài trước của tôi.

First Vietnamese American in US Congress

That is the piece of news on the NY Times that I spotted a couple of days ago. In a predominantly black and Democratic district in Louisiana, a certain Mr. Anh Cao, first generation migrant from Vietnam, defeated the long-term black Democrat incumbent, only a few weeks after the first black presidential candidate from a major party defeated the incumbent party's candidate. It is true that the Democrat incumbent, Rep. William J. Jefferson comes into the election with an infamous burden of FBI files full of corruption charges. It is also true that since the election was delayed due to hurricane Gustav, black turnout diminished significantly, compared to what would have been the case on Nov. 4. But it does not take out a bit of prestige from the unlikely victory of the first Vietnamese American Congressman.

What is more interesting to me is not really the hype of the unprecedented event (everything has a beginning, you may say), but the nature of the man that would soon stand for a whole immigrant community. I would scribe down a few points about him, through stereotypical glasses of that community.

First, he is highly religious, stereotypical of most Vietnamese Americans living in Vietnamese American communities I know. Second, like many first-generation immigrants, he suffered fatefully harsh childhood and adolescence, and decidedly worked hard as a response to the ordeal. Third, he is Republican. The last fact gathers a lot of stereotypical characters of the Vietnamese American communities. Exiled for different reasons, they regroup with a strong belief in God and superhuman forces that have saved them through the numerous obstacles they had to face. They have little belief in government, of any kind, and choose to work as hard as they can, wishing the society to leave everything into the invisible hand of the market. And they hold a diehard view on how to win wars and respect the military. These traits fit well into the staunch ideological lines of the Republican Party. While Obama might have been a bit more appealing to Vietnamese American than other Democratic candidates used to be, this socially coherent group of immigrants should not be expected to change their mind any time soon. (In the presidential election, Orange County still remains the only red county on the Californian coastline.)

Freedom and Heritage people, as my friend Filipe jokingly refers to the exiled community of Vietnamese Americans (after I explained why and how they wanted to stay loyal to their historical yellow and red stripes banner), face several paths. The two most common paths are bifurcated from what they have always been following: work hard, believe in God and fate, but do not believe in government and politics. The more able, or better educated, or simply luckier (choose your politically correct version), get even better opportunities through hard study and hard work, and nominally integrate into the American society thanks to a combination of a good job that commands social respect, a good saving, and a relatively quiet approach to social life. They sit back and enjoy the freedom their society gives them, but do not think of joining it. The rest, more numerous and more diverse, self-concentrate in strongly segregated communities, and rely on the maintenance of such communities, out of which they would scarcely survive.

There are now newer paths. Many Vietnamese Americans choose to go to Vietnam, establish a link between the two countries, or even settle down in Vietnam (a recent example springs to mind). Many others, mostly second-and-more generation Americans, live a full American dream, like Americans do. The full American dream oftentimes sends the Freedom and Heritage political view to oblivion; but a few like Mr. Anh Cao will not forget it. First, Mr. Anh Cao had first hand experience of the War and its consequences, and he made no attempt hiding his view that there is no unwinnable war. Second, he will soon become the emblem of a community hitherto relatively uninvolved in American politics, and the mobilization of that community means more votes. For a politician as he is, such opportunities will not be bypassed.

Following the symbolic win of Mr. Anh Cao, many Vietnamese Americans will again take up his path, and reheat the Freedom and Heritage cause. He will be their symbolic, if not effective leader. Vietnamese Americans will invest more time and effort in the real American politics, not their own fictive nostalgic comedies. They will soon make their names heard, if not their voices.

These are my predictions. And I am not sure what that will mean to the other Vietnamese, those who live in Vietnam.

Update: Tiên đoán quan trọng nhất, theo tôi, là tiên đoán về ảnh hưởng đối với Việt Nam, mà tôi không tiện viết ra trong bài trên. Tôi không có cảm giác vui hay buồn về tất cả những mẩu tin và nhận xét ở đây: tôi nghĩ là quá sớm để có thể nói đến ảnh hưởng đối với người Việt ở Việt Nam.

Friday, May 22, 2009

Paul Krugman ở Việt Nam

Sáng nay tôi có cơ hội dự buổi tọa đàm của Paul Krugman ở Hà Nội. Buổi tọa đàm tương đối ngắn, vì Krugman phải ra sân bay lúc 9:30, và nói chung không có thông tin gì đáng kể. Nội dung chính vẫn là những gì Krugman thường ủng hộ trên blog của mình, và rất ít chuyên sâu về tình hình Việt Nam (vì ông cũng không có thông tin gì mấy về Việt Nam). Tôi nghĩ là từ cuộc nói chuyện này, giới làm chính sách và giới báo chí sẽ trích dẫn được nhiều điều hợp ý mình (mặc dù không đúng ý Krugman), và sẽ thể hiện những luận điểm mạnh mẽ hơn trước nhờ có được sự ủng hộ của một nhà kinh tế có giải Nobel.

Tôi có ghi lại chi tiết tọa đàm trên khoảng 4 trang MS Word. Sau đây là một số điểm tôi chú ý từ cuộc tọa đàm:
- Krugman nhấn mạnh tiềm năng của kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ kinh tế Đông Á, và cho rằng bất cứ việc gì củng cố liên hệ kinh tế với Trung Quốc đều là điều tốt. Người dịch, người nghe, người trích dẫn chắc sẽ liên tưởng ngay đến dự án bauxite ở Tây Nguyên. Tôi cho là Krugman nghĩ đến các chính sách bảo hộ của Mỹ với hàng Trung Quốc.
- Tuy vậy, Krugman cũng nhắc đi nhắc lại rằng Trung Quốc vẫn còn xa mới đuổi kịp Mỹ hay Nhật, và đồng Nhân Dân Tệ cũng còn xa mới vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu 15 năm nữa đồng Euro ngang tầm với đồng USD, nhưng sẽ rất ngạc nhiên nếu đồng NDT vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc trong vòng 20 năm nữa.
- Krugman chú trọng đến vấn đề giáo dục và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, một điều mà tôi ít ngờ đến. Có lẽ đây là cách giải thích chính của ông về sự khác biệt giửa Đông Á và Mỹ Latin (suy đoán của tôi).
- Đối với vấn đề phần lớn kinh tế Việt Nam thuộc về nông nghiệp và nông thôn, Krugman nghĩ rằng về lâu dài với nhu cầu tăng và cung bị giới hạn thì nông nghiệp sẽ có vị trí tốt (VD: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng). Trong ngắn hạn, khi mà kinh tế hồi phục thì giá nông sản cũng sẽ hồi phục. Tôi không đồng ý nhiều với cả hai ý này.

Ngoài ra, hầu hết những gì Krugman nói có thể tìm hiểu được trên blog của ông (dù là nhiều vấn đề cũng phải tìm hiểu rất mất công). Ví dụ như dự đoán về khủng hoảng chạm đáy (chưa chạm đáy, chỉ rơi chậm lại thôi), hồi phục (rất vất vả, từ từ, không biết bao giờ mới phục hồi hết), y tế (bảo hiểm toàn dân, nhà nước đứng ra), gói kích cầu (ở Mỹ và hầu hết các nước kích cầu không đủ - điều này báo chí và giới chính sách sẽ trích ra để ủng hộ gói kích cầu cao hơn nữa của Việt Nam), khủng hoảng tương lai (không sửa điều tiết thì sẽ khủng hoảng sớm trong vòng 10 năm nữa), vv. và vv. Tôi không có cơ hội đặt câu hỏi, vì hạn chế thời gian, vị trí khuất và tính rụt rè. Cũng hơi tiếc, thành ra những câu hỏi của mình lại phải tự nghĩ thêm vậy.

Tạm thời tóm gọn như vậy, mấy hôm tới có nhớ thêm vấn đề gì sẽ chép thêm.

Tuesday, May 19, 2009

Kích cầu ở Việt Nam - hạ giá VND

Thời gian này tôi đang ở Hà Nội, gặp được nhiều quan điểm và hiện tượng hay, mà lại không có thời gian để chép xuống trên blog. (Cộng thêm việc đang nợ bài rất nhiều.) Hôm nay bèn tranh thủ chép lại một cách rất tản mạn, bằng một thứ tiếng Việt tương đối tệ :) :

- Về chính sách kích cầu ở Việt Nam: Trong các bài viết trên Vietnam Financial Review, tôi luôn phát biểu rằng Việt Nam còn chỗ cho chính sách tiền tệ, tức là giảm lãi suất chủ đạo của NHNN. Theo một ý kiến, thì lãi suất ở Việt Nam có lẽ đã chạm sàn rồi. Lý do là cân bằng về lãi suất (interest rate parity) với lãi suất USD, và rủi ro nội tại của việc giữ đồng VND. Để giữ cho VND là một phương tiện lưu trữ, thì lãi suất VND cũng phải bù (có premium) cho rủi ro về lạm phát và rủi ro về khả năng phá giá đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, có lẽ là thị trường đánh giá cả hai rủi ro này tương đối cao. Nhất là trên thị trường tiền gửi tiết kiệm thì các cá nhân hầu hết có thu nhập trung bình và thấp hơn, nên càng muốn tránh rủi ro (so với thị trường vay), vì thế premium có thể cao. Tổng premium có cao đến mức gần 8% không thì tôi không chắc.

Nếu quan điểm này đúng, thì một cách cởi trói cho Ngân hàng Nhà nước chính là chủ động hạ giá VND. Hiện giờ chủ đề này rất nhậy cảm, và tôi nghĩ là đang nằm trên cân của giới làm chính sách cấp cao. Hạ giá VND (chỉ một lần, bất ngờ) có thể kích thích xuất khẩu, có lẽ là cách kích thích mạnh và ít tốn kém bậc nhất, đồng thời cũng giảm sức ép lên dự trữ Quốc gia (hiện giờ black market premium, tức là chênh lệch tỷ giá thị trường tự do với tỷ giá chính thức, tương đối cao). Tuy vậy, trong thời gian trước mắt (có thể là một hai tháng) nó cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu, từ đó có ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh trong nước, trước khi xuất khẩu kịp tăng và bù lại phần hụt này. Hơn nữa, nếu hạ giá không nhiều như thị trường chờ đợi (nhiều khả năng xảy ra với tình hình chính sách hiện nay), thì dễ tạo nên ấn tượng và kỳ vọng tiếp tục hạ giá trong tương lai, dẫn đến sức ép mạnh hơn lên VND, và còn tạo sự bất cân đối hơn nữa (tuy là nó sẽ góp phần tăng hoạt động trong nước trong ngắn hạn).

Như đoạn phía trên đã phân tích, nếu hạ giá (một lần, bất ngờ) góp phần giảm rủi ro phá giá, thì nó còn có tác dụng mở đường cho việc hạ lãi suất, phần nào chính thức hóa chính sách bù lãi suất giúp doanh nghiệp tránh nợ xấu (một cách bail-out) như hiện nay. Tóm gộp lại, ảnh hưởng của việc hạ giá tương đối hỗn tạp, và cần có đầy đủ thông tin và số liệu mới có thể đánh giá cẩn thận hơn được.

Tạm thời thế đã.