Showing posts with label khủng hoảng. Show all posts
Showing posts with label khủng hoảng. Show all posts

Wednesday, June 10, 2009

Khủng hoảng lương thực: ngắn hạn, dài hạn, rủi ro, hiệu quả

Anh Linh có bình luận về một nhận xét của Krugman trong tọa đàm ở Hà Nội, tôi trích ra đây để phân tích thêm. Nhân đây cũng đăng luôn liên kết đến bản tường thuật buổi tọa đàm do Bộ Ngoại giao soạn, tôi nghĩ là rất sát với thực tế (có thể lệch một vài từ ngữ không đáng kể), tôi thấy liên kết này qua blog của anh Lê Hồng Giang.

Linh said...

Về vấn đề giáo dục: đúng là hơi lạ vì tôi ít thấy Krugman nhắc tới vấn đề giáo dục từ trước tới nay.

Cái ví dụ mà QA nói xem ra cũng chưa rõ ràng lắm: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng. Tôi không hiểu ý Krugman ở đây là gì nhưng vấn đề ở đây là việc người ta bỏ trồng lương thực để chăn nuôi nhằm đáp ứng sự chuyển dịch của cách thức ăn uống (tăng thịt, giảm ngũ cốc) và đó là một phần nguyên nhân của khủng hoảng lương thực gần đây.

Nếu xu hướng này tiếp tục thì giá lương thực sẽ có xu hướng tăng trong dài hạn nhưng điều đó không có nghĩa là cầu lương thực tăng mà chỉ đơn giản là cung lương thực bị hạn chế.

Trong ngắn hạn, tôi nghĩ cầu lương thực khá ổn định và không phụ thuộc nhiều vào khủng hoảng do độ co giãn của cầu lương thực với giá thấp. Lý do giá lương thực hiện nay giảm là vì giá năng lượng giảm cộng với các chính sách bảo hộ của các nước (như Trung Quốc mới hạn chế nhập khẩu hàng nông sản của Việt Nam). Vì thế nếu khủng hoảng hồi phục thì giá lương thực sẽ có xu hướng tăng nhưng chắc rằng không thể nào tăng như trong năm 2008 được. Cuộc khủng hoảng giá lương thực năm 2008 trầm trọng còn do chính sách lợi mình, hại người của nhiều quốc gia khi hạn chế xuất khẩu.

Ý của Krugman như thế này: khi các nước từng bước phát triển, thì nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở mức đủ no bằng lương thực, mà người ta còn muốn ăn thêm thịt nữa. Vì trung bình 7 phần lương thực mới sản xuất ra được 1 phần thịt, nên khi nhu cầu tiêu thụ chuyển sang thịt thì tổng nhu cầu đối với lương thực sẽ tăng lên tương đối. (Tôi nghĩ cung cấp thịt chính thì vẫn là chăn nuôi chứ không phải săn bắt, hay là đánh bắt hải sản.) Vì thế mới nói là tổng nhu cầu lương thực về lâu dài sẽ tăng lên, trong khi năng suất chưa chắc đã theo kịp, nên giá lương thực có thể cũng tăng nữa. Kết luận như vậy thực ra cũng phải giả thiết ngầm rằng cung lương thực không tăng nhanh bằng cầu. Cho dù năng suất lương thực tính theo diện tích đất và người lao động không tăng nhanh, tôi nghĩ là còn nhiều yếu tố khác làm cho cung tăng, ví dụ như người lao động ở Châu Phi có thể chuyên tâm trồng trọt, không phải lo chạy chiến tranh, xung đột, bóc lột, thì dĩ nhiên cung lương thực cũng sẽ tăng thêm nữa. Ý của Krugman như vậy cũng tương đồng với ý của bác Linh, khi bác nói đến việc bỏ trồng trọt, chuyển sang chăn nuôi.

Về việc các nước bảo hộ nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp lẫn an toàn lương thực, tôi nghĩ cũng là kết quả tất yếu của quá trình chính trị ở mọi nơi. Nhất là ở các nước nghèo, thì chế độ chính trị nào cũng phải đảm bảo an toàn lương thực mới mong giữ vững được. Tôi nghĩ đấy là hệ quả của cuộc khủng hoảng lương thực, không phải là mấu chốt.

Tôi nghĩ đặc điểm cơ sở của cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008 chính là sự tương phản (trade-off) giữa rủi ro và thu hoạch (risk vs. return), nhìn trên góc độ toàn cầu. Trên góc độ toàn cầu, chỉ cần sản xuất lương thực vừa đủ, sau đó thương mại quốc tế sẽ giúp cân bằng cung và cầu ở khắp mọi nơi. Tuy vậy, đấy là trong thời điểm cân bằng. Khi thị trường mất cân bằng chút ít, thì thường có những lực lượng cản trở (friction) làm cho thị trường khó trở lại cân bằng hơn. Kinh nghiệm 2008 cho thấy những lực lượng này tương đối mạnh: đó là can thiệp bảo hộ của hầu hết các nước (Việt Nam cũng tương đối thô bạo), là sự bấp bênh về giá cả sản xuất (nhất là giá dầu), là sự bấp bênh, không dự đoán trước được về thiên nhiên, là sự chuyển dịch quá nhanh ra khỏi cây lương thực cơ bản. Trong một thời điểm có nhiều điều tệ hại cùng xảy ra, thì tác hại có thể khá lớn.

Vẫn biết là dài hạn thì giá cả sẽ dần dần điều chỉnh, và thị trường vẫn hoạt động tốt. Tuy vậy, ngắn hạn cũng rất quan trọng, và câu nói của Keynes "In the long run we are all dead" thì đặc biệt có ý nghĩa với những người nghèo khổ sống ngày qua ngày nhờ vào mức lương thực tối thiểu: nếu chờ đợi thị trường giải quyết vấn đề "in the long run", thì có thể họ đã chết cả rồi.

Kinh nghiệm 2008 có thể là một bài học tốt về sự tương phản risk-return, short run stability - long run efficiency. Tuy vậy, khủng hoảng lương thực nhường chỗ cho khủng hoảng tài chính có thể đã làm cho người ta quên khuấy đi mất vấn đề sống còn đối với người nghèo này.

Wednesday, June 3, 2009

Hạ giá đồng Việt Nam - tiếp tục

Hôm trước anh VHLinh và LHGiang có bình luận về bài viết Hạ giá Đồng Việt Nam của tôi, nay tôi tách ra thanh bài viết riêng để trao đổi thêm:


Linh said...

Tôi lại nghĩ việc hạ giá mạnh một lần là rất ít khả năng xảy ra. Thứ nhất, nó đi ngược lại các quan điểm được nêu ra từ trước về chính sách tiền tệ. Trong điều kiện người dân đã ít tin tưởng vào khả năng điều hành kinh tế (và cả chính trị) của chính quyền thì việc hạ giá trái với các tuyên bố trước kia sẽ càng khiến họ mất lòng tin hơn. Và khi đó họ sẽ đổ xô đi mua USD, có thể khiến đồng VND bị hạ giá hơn nữa dẫn tới mất kiểm soát.

Thứ hai là yếu tố tâm lý người dân. Người dân không quen với việc phá giá một lần mà có xu hướng đón đợi sự điều chỉnh giảm giá nhiều lần. Do đó nếu phá giá một lần thì chưa chắc người dân đã tin là phá giá một lần mà lại e rằng Nhà nước sẽ tiếp tục phá giá nữa.

Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?

May 20, 2009 12:35 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

giangle said...

@Linh:
"Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?"

Câu hỏi này rất hay và cũng liên quan đến expectation của người dân về việc liệu nhà nước có tiếp tục phá giá nữa hay không.

Tôi nghĩ giải pháp cho NHNN là không tuyên bố phá giá mà tuyên bố thay đổi qui chế vận hành của tỷ giá. Ví dụ mở rộng biên độ giao dịch và cho phép dịch chuyển central rate hàng ngày theo biến động của tỷ giá ngày hôm trước (flexible bands).

@QA: Tôi nghĩ một lý do nữa NHNN lưỡng lự chưa cắt lãi suất mạnh và phá giá VNĐ là lạm phát. Mấy tuần vừa rồi các NHTM phải tăng lãi suất huy động, chắc là đang thiếu liquidity chứ không phải vì cần huy động vốn để tăng tín dụng. Bóp nghẹt liquidity có vẻ là preferred policy của NHNN để chống lạm phát như hồi đầu năm ngoái.

May 20, 2009 11:12 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

Theo tôi, hiện giờ tỷ giá VND so với USD đang chênh vênh, có nghĩa một phần là Nhà nước đang “đánh bạc” rằng đồng USD sẽ giảm xuống so với các đồng tiền thong dụng khác. Nếu điều này xảy ra (hiện giờ đồng USD đã giảm chút ít so với mấy tháng trước), thì sẽ bớt đi nhiều áp lực lên VND, và mọi sự sẽ vẹn toàn. Lúc đó, chính phủ không phải phá giá, không phải thay đổi chính sách, sẽ có khoảng trống để áp dụng thêm chính sách tiền tệ, và có thể tự quảng cáo là bảo vệ thanh công (một lần nữa!) VND trước sức ép đầu cơ của nước ngoài. Bản than thị trường và người dân cũng sẽ có lợi: VND vẫn được giảm giá so với các đồng tiền floating khác (của các đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu), lại không chịu ảnh hưởng gì cả của sự bất ổn định khi có quyết định hạ giá, bất cứ là quyết định kiểu gì. Đây là viễn cảnh huy hoàng, có lợi cho mọi người (ở Việt Nam), và sẽ được tuyên bố và giải thích theo nhiều góc nhìn, thế nào tiện cũng được.

Viễn cảnh nửa vời, là mọi sự cứ diễn biến y hệt như hiện nay, tức là USD vẫn bấp bênh, VND vẫn bấp bênh, và do đó các chính sách tỷ giá và lãi suất vẫn bấp bênh. Tôi có viết một chút về lãi suất trên VFR số tới, hiện giờ báo chưa đăng nên chưa đưa lên blog được. Như hiện giờ, thì Nhà nước phải can thiệp một phần bằng chính sách hành chính, hạn chế quy đổi VND-USD, hạn chế giao dịch bằng USD, vv. Cũng là việc bất đắc dĩ, và chắc chắn ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh.

Viễn cảnh ảm đạm nhất, là USD lại quay lại chiều hướng cao giá như mấy tháng trước. Lúc đó, sức ép lên VND còn tăng cao, và khó có thể thấy khả năng Nhà nước giữ được mức tỷ giá như hiện giờ. Ở đây, đề xuất của anh Lê Hồng Giang là nới lỏng biên độ tỷ giá. Tôi không rõ có ổn không. Dù chênh lệch giữa giá chính thức và giá chợ đen hiện nay chỉ khoảng 3% (18,200 so với 17,700), khi nới lỏng biên độ thì biên độ mới phải rộng gấp 3 lần biên độ cũ. Con số 3 lần có lẽ sẽ được thị trường và người dân hiểu (một cách chính xác) không khác gì hành động hạ giá đáng kể, và sẽ gây nên chuỗi sự kiện (chain reaction) giống như trong trường hợp tuyên bố hạ giá.

Đối với long dân và niềm tin vào chính sách của Nhà nước, tôi nghĩ một kích bản dễ xảy ra là Quốc hội đột ngột chất vấn và yêu cầu hạ giá VND, các báo chí cũng đồng loạt đăng bài kêu gọi hạ giá để giúp xuất khẩu, và việc hạ giá chuyển ngay từ một chủ đề taboo thanh chủ để thời thượng trên tất cả các phương tiện thong tin đại chúng, từ chính quy cho đến ngoài lề. Kết quả là người dân cảm giác như chính mình đang đòi hạ giá VND, và chính phủ sẽ miễn cưỡng hạ giá/nới lỏng biên độ giao dịch. Đây không phải là lần đầu kịch bản như thế này xảy ra, và tôi nghĩ thực sự nó sẽ giúp ổn định nhiều khía cạnh kinh tế trong giai đoạn khó khăn này, trong trường hợp USD lại tăng giá.

Về câu hỏi phá giá bao nhiêu thì hợp lý: Có thể nếu black market premium hiện nay là 3%, thì không cần hạ giá đến mức 3% cũng vẫn củng cố được niềm tin của người cầm VND. Vấn đề là 3% thì Chính phủ vẫn chưa chịu hạ giá (vẫn cầm cự được), và sẽ chỉ hạ giá khi mà premium lên thêm một, hai điểm phần trăm nữa. Lúc đó, có lẽ hạ giá phải đến mức 4-5%.

Về vấn đề lạm phát, tôi nghĩ nó chưa phải là vấn đề đáng lo trong thời gian gần, cho dù đúng là phải theo dõi sát sao. Có lẽ tôi sẽ viết thêm về lạm phát trong một lần khác.

Cuối cùng, tình huống khó xử hiện nay và viễn cảnh nửa vời bấp bênh về tỷ giá làm tôi nhờ đến câu chuyện cái “cân kê” (gân gà) trong truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ngụy Vương Tào Tháo thua trận, muốn rút khỏi cuộc tranh giành Hán Trung với Ích Châu Mục Lưu Bị, song lại sợ bị yếu thế và hổ danh tiếng, suy nghĩ mãi không xong, nhân Hạ Hầu Đôn vào hỏi khẩu lệnh ban đêm, thấy bát canh gà mới buột mồm nói khẩu lệnh là “cân kê”. Quan tòng sự Dương Tu nổi tiếng thông minh, nghe thấy thế liền sai quân lính chuẩn bị hành lý rút lui, giải thích rằng gân gà nhai thì khó, mà bỏ thì không nỡ, song sớm muộn cũng sẽ phải bỏ thôi. Tào Tháo nhân vốn ghét Dương Tu hay phát ngôn quá giới hạn, mới ghép vào tội làm rối long quân mà đem Dương Tu ra chém. Rất đáng tiếc. Không biết thời nay nói nhiều về chủ đề taboo thì có số phận giống Dương Tu không.


Update: Chưa già đã lẫn, hôm nay viết xong đọc lại thấy quen quen, hóa ra là tôi đã viết những ý tương tự trong một bài trước rồi. Bạn đọc thông cảm là tuần vừa rồi tôi bị ốm, chắc vì thế mà đầu óc lộn xộn hết thứ tự thời gian, hì hì.

Friday, May 22, 2009

Paul Krugman ở Việt Nam

Sáng nay tôi có cơ hội dự buổi tọa đàm của Paul Krugman ở Hà Nội. Buổi tọa đàm tương đối ngắn, vì Krugman phải ra sân bay lúc 9:30, và nói chung không có thông tin gì đáng kể. Nội dung chính vẫn là những gì Krugman thường ủng hộ trên blog của mình, và rất ít chuyên sâu về tình hình Việt Nam (vì ông cũng không có thông tin gì mấy về Việt Nam). Tôi nghĩ là từ cuộc nói chuyện này, giới làm chính sách và giới báo chí sẽ trích dẫn được nhiều điều hợp ý mình (mặc dù không đúng ý Krugman), và sẽ thể hiện những luận điểm mạnh mẽ hơn trước nhờ có được sự ủng hộ của một nhà kinh tế có giải Nobel.

Tôi có ghi lại chi tiết tọa đàm trên khoảng 4 trang MS Word. Sau đây là một số điểm tôi chú ý từ cuộc tọa đàm:
- Krugman nhấn mạnh tiềm năng của kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ kinh tế Đông Á, và cho rằng bất cứ việc gì củng cố liên hệ kinh tế với Trung Quốc đều là điều tốt. Người dịch, người nghe, người trích dẫn chắc sẽ liên tưởng ngay đến dự án bauxite ở Tây Nguyên. Tôi cho là Krugman nghĩ đến các chính sách bảo hộ của Mỹ với hàng Trung Quốc.
- Tuy vậy, Krugman cũng nhắc đi nhắc lại rằng Trung Quốc vẫn còn xa mới đuổi kịp Mỹ hay Nhật, và đồng Nhân Dân Tệ cũng còn xa mới vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu 15 năm nữa đồng Euro ngang tầm với đồng USD, nhưng sẽ rất ngạc nhiên nếu đồng NDT vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc trong vòng 20 năm nữa.
- Krugman chú trọng đến vấn đề giáo dục và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, một điều mà tôi ít ngờ đến. Có lẽ đây là cách giải thích chính của ông về sự khác biệt giửa Đông Á và Mỹ Latin (suy đoán của tôi).
- Đối với vấn đề phần lớn kinh tế Việt Nam thuộc về nông nghiệp và nông thôn, Krugman nghĩ rằng về lâu dài với nhu cầu tăng và cung bị giới hạn thì nông nghiệp sẽ có vị trí tốt (VD: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng). Trong ngắn hạn, khi mà kinh tế hồi phục thì giá nông sản cũng sẽ hồi phục. Tôi không đồng ý nhiều với cả hai ý này.

Ngoài ra, hầu hết những gì Krugman nói có thể tìm hiểu được trên blog của ông (dù là nhiều vấn đề cũng phải tìm hiểu rất mất công). Ví dụ như dự đoán về khủng hoảng chạm đáy (chưa chạm đáy, chỉ rơi chậm lại thôi), hồi phục (rất vất vả, từ từ, không biết bao giờ mới phục hồi hết), y tế (bảo hiểm toàn dân, nhà nước đứng ra), gói kích cầu (ở Mỹ và hầu hết các nước kích cầu không đủ - điều này báo chí và giới chính sách sẽ trích ra để ủng hộ gói kích cầu cao hơn nữa của Việt Nam), khủng hoảng tương lai (không sửa điều tiết thì sẽ khủng hoảng sớm trong vòng 10 năm nữa), vv. và vv. Tôi không có cơ hội đặt câu hỏi, vì hạn chế thời gian, vị trí khuất và tính rụt rè. Cũng hơi tiếc, thành ra những câu hỏi của mình lại phải tự nghĩ thêm vậy.

Tạm thời tóm gọn như vậy, mấy hôm tới có nhớ thêm vấn đề gì sẽ chép thêm.

Saturday, April 11, 2009

Giá trị ngành tài chính

Paul Krugman mới viết bài trên New York Times dựa trên nghiên cứu của Philippon và Reshef, được Dr. Trần trên blog Minh Biện dịch lại, tựa đề "Hãy làm ngân hàng tẻ nhạt". Từ khi bắt đầu khủng hoảng, Krugman cho rằng ngành tài chính phần lớn tạo ra giá trị ảo, và tất cả đã "nổ bong bóng". Tôi không hoàn toàn đồng ý vậy, thậm chí nghĩ là quan điểm này của Krugman có phần hơi trái ngược với đánh giá của ông rằng nền kinh tế đang ở trong trạng thái thiếu cầu, và cần nhất là chính sách kích cầu.

Tôi vẫn tin rằng ngành tài chính có đóng góp rất lớn cho tăng trưởng, đặc biệt là hệ thống tài chính ở các nước nghèo ảnh hưởng sống còn đến khả năng tăng trưởng và bắt kịp các nước giầu. Philippe Aghion (thầy tôi), Peter Howitt và David Mayer-Foulkès nghiên cứu và chỉ ra rằng mức độ phát triển tài chính là chìa khóa giúp các nước nghèo bắt kịp trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến hàng đầu; hay chính xác hơn là nếu không có hệ thống tài chính đủ mạnh, thì nước nghèo mãi mãi không đuổi kịp được các nước giầu (khi mà tăng trưởng là nội sinh). Khái niệm mức độ phát triển tài chính được Ross Levine phát triển cùng nhiều cộng sự, và được xem là có ảnh hưởng rất sâu và rộng đến nhiều vấn đề phát triển, chứ không phải chỉ có tăng trưởng.

Có thể phản biện lại rằng việc đẩy mạnh ngành tài chính chỉ có ích với các nước đang phát triển, trong khi ở các nước phát triển thì nó dễ mang lại rủi ro khủng hoảng. Nhưng ở các nước phát triển, ngành tài chính đóng góp công lớn trong việc huy động vốn ủng hộ những dự án cần đầu tư nhiều, lợi nhuận cao dù có tính rủi ro cao: ví dụ như nghiên cứu và phát triển thuốc, công nghệ thông tin, và các công nghệ tiên phong khác. Đấy chính là động lực tối ưu tạo tăng trưởng bền vững ở các nước giầu, khi mà họ không thể dựa vào lao động cật lực hay tiết kiệm chắt chiu (như các con rồng, con hổ Đông Nam Á), và cũng không thể dựa vào việc bắt chước lại công nghệ đỉnh cao (vì chính họ đã nằm trên đỉnh cao rồi).

Nhìn trên quan điểm tài chính phục vụ tăng trưởng, thì giá trị ngành này mang lại cũng phụ thuộc vào viễn cảnh tăng trưởng. Hiện giờ viễn cảnh tăng trưởng ảm đạm, nên ngành tài chính không tạo ra được gì mấy, do đó sự sụp đổ là điểm nổi bật trong bức tranh toàn ngành. Nếu như đây thực sự là khả năng cân bằng duy nhất trong hiện tại và tương lai, thì chúng ta phải công nhận là ngành tài chính trong thời gian cao trào chỉ tạo ra bong bóng, và hiện nay không có cách giải quyết khủng hoảng nào khác ngoài việc nhặt cỏ dại, cho phá sản hàng loạt để làm sạch cả nền kinh tế. Ít người tin vào điều này, và Krugman đặc biệt khẳng định ngược lại rằng tình trạng hiện thời có thể giải quyết được bằng việc kích cầu cực mạnh để chuyển sang một cân bằng tốt hơn nhiều, trong hiện tại lẫn tương lai gần. (Trong tương lai xa, như Keynes nói, thì chúng ta đều tỏi.) Trong trường hợp này, khi gói kích cầu giải quyết khủng hoảng như vậy, tôi đoán chắc là giá trị ngành tài chính lại được nâng lên đáng kể.

Khi ngành tài chính mang lại nhiều giá trị, thì không ngạc nhiên gì khi nhân công trong ngành được trả lương rất cao. Và nhân công cấp cao thì lương và thù lao càng cao hơn gấp bội. Thời gian gần đây có rất nhiều nghiên cứu giải thích hiện tượng CEO hưởng thu nhập khổng lồ, nổi bật như nghiên cứu của Gabaix và Landier. Gabaix và Landier cho thấy là có thể giải thích mức tăng chóng mặt của lương CEO thời gian gần đây chỉ nhờ vào giá trị tăng của các công ty, chứ không nhất thiết vì CEO giỏi kinh khủng, hay vì họ gian lận và kiếm lời bất chính.

...
Bài này viết từ nhiều hôm trước mà chưa đăng, hôm nay Krugman lại có bài viết chê bai tăng năng suất của ngành tài chính ở Mỹ. Ở thời điểm này, khó biết xác đáng hiện thực như thế nào. Nhưng tôi nghiêng về cách giải thích rằng ngành tài chính có giá trị thực sự, rằng nó sẽ phục hồi và lại nở rộ, và mức thu nhập trong ngành, đặc biệt là cho nhân sự cấp cao, sẽ lại tăng rất mạnh.

Update: Dịch giả trên Minh Biện là Dr. Trần, trong bản đầu tiên tôi nhầm là Dự Trần. Lỗi đã sửa, cảm ơn anh Linh chỉ.

Update: Bác Giang, ý tôi về mâu thuẫn cụ thể là nếu như có cơ hội để chính sách kích cầu thành công, thì có nghĩa là những đánh giá hiện giờ về ngành tài chính (khi chưa/không có kích cầu) là đánh giá thấp hơn (nhiều) so với tiềm năng thực thụ nếu có kích cầu. Như vậy, nếu như kích cầu là đúng, thì không nên chỉ dựa vào con số hiện tại mà nói rằng ngành tài chính không mang lại giá trị gì.

Nhận định của bác về IB vs. traditional banking rất hợp lý. Tôi nghĩ là giá trị của IB đối với toàn nền kinh tế rất cao, và bây giờ có lẽ đang bị đánh giá thấp (so với scenario có cứu trợ kích cầu đầy đủ). Ngoài những yếu tố bác nói đã dẫn đến cuộc khủng hoảng hiện giờ, tôi nghĩ một yếu tố quan trọng (có thể là quan trọng nhất) là sự thừa thãi vốn ở thị trường Mỹ (vì giá đồng USD, vì current account deficit, vì savings glut, về demand for dollars vv.), dẫn đến việc ngành tài chính tìm đủ mọi cách để kiếm thêm tiền từ dòng vốn này.

Hậu khủng hoảng, có xu hướng tăng cường điều tiết bởi Nhà nước, như Krugman cổ xúy, hay như các nước châu Âu nhằm vào. Cũng có thể làm cách khác, là mở rộng thêm thị trường tài chính để bảo hiểm thêm hầu hết các rủi ro vĩ mô ít gặp phải. Dù rằng tôi không rõ ai có thể thực sự đứng ra bảo hiểm những rủi ro kiểu đó. Mấy hôm nay tôi đang đọc qua nền tảng các khái niệm risk và uncertainty trong kinh tế học (vNM và Savage), hôm nào đó chắc sẽ viết thêm về mối liên quan đến ngành tài chính.

Wednesday, April 8, 2009

Sachs và kế hoạch Geithner - Summers

Jeff Sachs lại cảnh báo thêm nguy cơ tiềm ẩn của bản kế hoạch cho vay để mua nợ xấu của Geithner - Summers ở đây. (Tôi đọc qua blog của Krugman hai hôm trước.) Sachs, Krugman, Stiglitz và nhiều người khác đã cảnh báo rằng bản kế hoạch này trên trung bình lấy tiền thuế của dân để trợ giúp cho cổ đông các công ty; tuy vậy DeLong và một số người cho rằng điều này không đáng lo, vì họ nghĩ xác suất rủi ro của nợ xấu tương đối thấp. Bài mới này của Sachs đưa ra một mối lo khác, có tiềm năng nguy hiểm hơn nhiều, là các ngân hàng sở hữu nợ xấu hiện nay có thể tự tạo ra công ty mua nợ, vay của chính phủ, mua lại nợ của chính mình, rồi tự phá sản và ăn chênh lệch từ phần vay ưu đãi của chính phủ. Sự khác biệt giữa hai ví dụ tương đối lớn. Ở ví dụ về việc trợ cấp cho cổ đông bằng thuế của dân nói trên, vẫn có thể lý luận rằng việc làm này có hiệu quả nếu như thị trường đang bi quan quá mức, và đánh giá quá cao khả năng nợ không đòi được. Điều này có thể hợp lý, nhất là khi mỗi cá nhân/ngân hàng đánh giá cao khả năng này, vì cả thị trường bị tắc vào một cân bằng xấu, một vòng luẩn quẩn tệ hại giữa dự đoán khủng hoảng và thực tế khủng hoảng. Trong khi đó, ở ví dụ mới về việc tự bán nợ nội bộ của Sachs, cho dù thị trường có bi quan hay không, việc thực hiện mẹo này khiến các công ty chắc chắn kiếm được tiền từ hầu bao của chính phủ, tức là tiền thuế của dân, trong mọi tình huống.

Xem ra, tình hình tài chính ở Mỹ và thế giới vẫn chưa cải thiện được một sớm một chiều.

Update: Cảm ơn bác Giang giới thiệu. Bài viết của Nemo Publius nói Sachs không chịu đọc kỹ một clause của kế hoạch Geithner cấm insider trading như Sachs nói. Tuy vậy, Nemo cũng không để ý rằng Sachs dùng ví dụ insider trading một cách đơn giản hóa. Phần cuối bài, Sachs cũng nói rằng cái mẹo đơn giản như trong bài thì có thể bị cấm, nhưng ngân hàng sẽ có collusion và các mẹo khác đi vòng, phức tạp hơn. Vì thế có nhiều khả năng là ngân hàng vẫn "chơi" kế hoạch Geithner được. Tôi nghĩ cũng là hai cách nhìn nửa cốc vơi, nửa cốc đầy mà thôi.

Sunday, April 5, 2009

Khủng hoảng và tội phạm

Tin mới cho thấy, sát thủ ở New York trong vụ thảm sát mới đây là một nạn nhân của tình hình kinh tế yếu kém. Đề tài nghiên cứu về điều kiện kinh tế và tội phạm đã được đào sâu từ tương đối lâu (bài báo "Crime and Punishment" của Gary Becker (1968) có lẽ là một trong những viên gạch đầu tiên). Nói chung, kinh tế yếu kém dẫn đến nhiều tội phạm, song tỷ lệ tội phạm tài sản (trộm cắp, đột nhập nhà, cướp tài sản vv.) lại ít đi so với các loại tội phạm khác (vì người ta để ý canh chừng tài sản nhiều hơn trong tình hình kinh tế khó khăn). Trong thời điểm hiện nay, nếu không có can thiệp kịp thời vào hệ thống cảnh sát, rất dễ dẫn đến gia tăng đáng kể tội phạm bạo lực không nhằm vào tài sản. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỷ lệ tội phạm bị kết tội và phải đi tù có ảnh hưởng giảm các vụ tội phạm sau này. Như vậy có lẽ một phần của gói kích cầu của chính phủ (không chỉ ở Mỹ) nên dành cho hệ thống cảnh sát và nhà tù. Đây cũng là một câu chuyện buồn của nước Mỹ, khi mà nhà tù vốn đã nhiều lại có khả năng phải thêm chỗ. Và phần lớn cư dân trong các khách sạn đặc biệt này thuộc về những nhóm dân cư số ít, thường chịu thiệt thòi trong xã hội, đặc biệt là người da đen.

Đối với các nhà kinh tế học thực nghiệm, có lẽ thời gian này là cơ hội để nghiên cứu nguyên nhân các vụ thảm sát, vì hiếm khi có nhiều vụ thảm sát trên khắp thế giới như thế này. Dĩ nhiên là chẳng ai mong đợi gì chuyện này cả.

Cập nhật: Blog của Linh liệt kê những vụ thảm sát tại Mỹ trong thời gian gần đây. Số lượng như vậy tương đối nhiều.

Một điểm đáng chú ý là cảnh sát, nhà tù, hay các biện pháp ngăn ngừa (deterrence) bằng cách nâng cao khả năng chịu hình phạt và mức độ hình phạt có lẽ không có tác dụng gì với các vụ thảm sát. Hạn chế sử dụng súng hiện thời cũng không hẳn có tác dụng, vì vấn đề của một chính sách hạn chế sử dụng súng mới là làm sao kiểm soát được súng đã được cấp phép và đi vào sử dụng. Có thể việc mở rộng các trung tâm trợ giúp tâm lý, giảm stress vv. sẽ có tác dụng hơn chăng?

Thursday, April 2, 2009

Giải pháp dựa vào thị trường

Oliver Hart và Luigi Zingales đề xuất giải pháp điều tiết thị trường dựa vào thông tin từ thị trường, ở đây. Ý tưởng cơ bản là (1) khó có thể trông chờ vào quyết định tùy tiện của nhà quản lý (regulator), (2) nên dùng một khung quy định quản lý dựa vào Credit Default Swap của từng cơ sở tài chính lớn, ví dụ như một đường giới hạn báo động dựa vào giá của CDS.

Tôi không rõ về CDS, nên khó nhận xét nhiều. Nhưng theo bài này về các mô hình định giá nợ đơn giản hóa bằng copula, thì một vấn đề lớn dẫn đến đầu cơ nợ, bong bóng và khủng hoảng chính là cách định giá nợ có nhều sai sót này. Nếu vậy, khó có thể dựa vào giá của CDS để điều tiết thị trường. Mục tiêu quan trọng của điều tiết là tránh khủng hoảng trước khi nó được châm ngòi: nếu mức độ rủi ro đánh giá bằng CDS là quá thấp so với thực tế, thì việc quản lý dựa vào nó là vô nghĩa. Chưa kể là một khi có quy định quản lý như vậy, thì quy định đó sẽ ảnh hưởng đến cách định giá của thị trường, và có thể dẫn đến các cách cắt - gói nợ kiểu mới để tránh hoàn toàn sự thắt chặt quy định ấy.