Showing posts with label tản mạn. Show all posts
Showing posts with label tản mạn. Show all posts

Thursday, June 11, 2009

American Academy of Arts and Sciences

Cuối tháng 4 vừa rồi, American Academy of Arts and Sciences bầu thêm thành viên mới theo định kỳ hàng năm. (Tôi tạm dịch đây là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Mỹ - theo đó, tôi dịch Arts là Khoa học và Sciences là Công nghệ.) Trong danh sách này, tôi chú ý nhất đến các nhà kinh tế học, trong đó có ông thầy Philippe Aghion:
  • Aghion, Philippe - Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • Bolton, Patrick - Columbia University, New York, New York
  • Duflo, Esther - Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, Massachusetts
  • Gibbons, Robert S. - Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, Massachusetts
  • Imbens, Guido W. - Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • Jackson, Matthew O. - Stanford University, Stanford, California
  • Rajan, Raghuram G. - University of Chicago Graduate School of Business, Chicago, Illinois
  • (Foreign Honorary Member) Dewatripont, Mathias - Université Libre de Bruxelles, Brussels, Belgium
Ngoài ra, có Benjamin Friedman ở Khoa Kinh tế, Harvard, nhưng được bầu vào theo diện "Public Affairs, Journalism and Communications", cũng tương đối hợp lý :-).

Danh sách có điểm đáng chú ý nhất là Esther Duflo: cô còn rất trẻ, chưa đến 40 tuổi (năm tới vẫn còn dịp chiếm Huy chương John Bates Clark). Tôi nghĩ đây là trường hợp khá ngoại lệ. Hiện giờ, đã rất nhiều người dự đoán Duflo sẽ đoạt Huy chương Clark vào năm tới. Khi The Economist liệt kê các nhà kinh tế trẻ tuổi đáng chú ý nhất (họ làm 10 năm 1 lần), rất nhiều nhà kinh tế đã coi Duflo quá thành đạt để có thể gọi là "trẻ" ! (Tôi lười quá không tìm lại bài báo này.) Tôi có học lớp Kinh tế Phát triển của Duflo. Ngoài đời, cô nhanh nhẹn, khá vui tính, nói tiếng Anh giọng Pháp nặng.

Một điểm khác là danh sách chung (liên kết chỉ có đến năm 2008) các thành viên về kinh tế học của Viện có vẻ có hơi nhiều người ở Harvard/MIT so với các trung tâm khác như Chicago/Northwestern hay Stanford/Berkeley. Cũng có thể là Harvard/MIT quen thu hút nhiều người xuất sắc về đấy. Tuy nhiên, tôi nghĩ cách giải thích hợp lý hơn là Trung tâm của Viện đặt ở Cambridge, nơi có 2 trường Đại học danh tiếng này.

Ngoài kinh tế học, cũng có nhiều cá nhân đặc biệt được bầu trong năm nay. Tôi biết đến những người này:
  • (Toán học) Tao, Terence - University of California, Los Angeles, California. Terence Tao là thần đồng nổi tiếng thế giới về Toán học, được Huy chương Fields cách đây mấy năm.
  • (Khoa học chính trị) Pettit, Philip Noel - Princeton University, Princeton, New Jersey
  • Simmons, Beth A. Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • (Khoa học nhận thức - Neurosciences, Cognitive Sciences, and Behavioral Biology) Hofstadter, Douglas R. Indiana University, Bloomington, Indiana
  • (Nghệ thuật) Dustin Hoffman
  • Wong, Kar-Wai
  • Bono
Ngoài ra cũng có diện hoạt động chính trị, kinh doanh, phi lợi nhuận, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Robert Gates, Giám đốc Viện Brooking là Strobe Talbott, và 2 directors của McKinsey.

Saturday, May 23, 2009

Ngữ pháp: quy chuẩn và tự do

Bài này viết về một quan điểm về ngữ pháp mà tôi đồng tình. Nói tóm gọn, quan điểm của tôi là bản thân ngôn ngữ và các quy tắc của ngôn ngữ (bao gồm ngữ pháp, nội dung ý nghĩa từ ngữ vv.) có mục đích cơ bản, quan trọng nhất là truyền tải thông tin để tạo kênh thông hiểu giữa các cá nhân: communicate to coordinate & cooperate. Tôi không tin vào giá trị mỹ học nội tại hay thuần túy trong ngôn ngữ. Một nhóm người có thể thấy ngôn ngữ của một đoạn văn, đoạn thơ đặc biệt hay hay đẹp, song theo tôi đó là cảm giác cá nhân, xây dựng trên nền tảng giáo dục và kinh nghiệm hiểu biết của cá nhân; theo quan điểm bảo hộ tự do thì người ta không thể và không có quyền dựa vào quan điểm mỹ học đó để đưa ra quy chuẩn ép tất cả tuân theo được. Tất cả ở đây bao gồm cả các thế hệ kế tiếp, chứ không đơn thuần là các nhóm khác nhau trong cùng một thời điểm.

Vì thế, tôi coi việc các Viện hàn lâm tự cho mình quyền, thậm chí cả những xã hội dân chủ, có bề dầy văn hóa, tự cho mình quyền quy định quy tắc ngôn ngữ là ảnh hưởng tự do của các thế hệ sau. Các Viện hàn lâm ngôn ngữ ở một số nước dân chủ, văn hóa (Pháp, Đức, vv.) có được sự ủy quyền của cả xã hội dân sự (thông qua các thể chế dân chủ) để đặt ra quy định chặt chẽ về ngữ pháp và ngôn ngữ, trong chừng mực nào đó luôn luôn tạo ra hàng rào đối với các thế hệ tương lai, chí ít là cho đến khi bản thân các thế hệ hậu duệ thu lại quyền định đoạt ngôn ngữ của mình khi họ có đủ đại diện trong những Viện hàn lâm ấy.

Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm chỉ trích sự lạm dụng cấu trúc ngữ pháp ngoại lai trong tiếng Việt, ví dụ như "thể bị động không nên được dùng trong câu văn tiếng Việt", "blog này bị viết bởi một người làm hỏng tiếng Việt", và cả ngôn ngữ teen mà tôi không rõ trích dẫn thế nào. Tôi không đồng tình với những quan điểm này, và hiểu nó dựa trên khung các giao dịch phản cảm mà tôi đã có lần nhắc đến. Cụ thể là những người trung thành với các cấu trúc ngữ pháp, từ ngữ thường thấy trong tiếng Việt cảm thấy "phản cảm", nếu không muốn nói là "ghê tởm" khi có những cấu trúc ngoại lai xuất hiện, cho dù là về mặt ngữ nghĩa và logic thì không có gì không rõ ràng hay khúc mắc cả.

Một số đặc điểm của những cấu trúc mới có thể gây khó khăn trong việc truyền tải thông tin, ví dụ như việc viết cho khó đọc, không viết hoa đầu câu, vv. Song những yếu tố này cũng thuộc vào cả một khung cảnh ngôn ngữ tiến hóa động: cái gì cần và nhiều người thích thì sẽ còn tồn tại, cái gì không có ích lợi, không "được thích" thì chỉ còn là hiện tượng thoảng qua. Yếu tố phảm cảm góp phần "bảo thủ", giữ lại nguyên trạng của những quy chuẩn một thời, và làm chậm lại quá trình tiến hóa.

Cũng không rõ việc làm chậm lại này ảnh hưởng tốt hay xấu đến xã hội. Cái tôi muốn khẳng định ở đây là nó phát sinh từ mâu thuẫn giữa các thế hệ trong xã hội, từ sự va chạm giữa sự tự do của các thế hệ này.

Update: Bài này bên blog của chị Hoàng Yến trình bày một cách nhìn khá thú vị về ngữ pháp. Về cơ bản không có mâu thuẫn gì với cách nhìn của tôi cả.

Tuesday, May 19, 2009

Kích cầu ở Việt Nam - hạ giá VND

Thời gian này tôi đang ở Hà Nội, gặp được nhiều quan điểm và hiện tượng hay, mà lại không có thời gian để chép xuống trên blog. (Cộng thêm việc đang nợ bài rất nhiều.) Hôm nay bèn tranh thủ chép lại một cách rất tản mạn, bằng một thứ tiếng Việt tương đối tệ :) :

- Về chính sách kích cầu ở Việt Nam: Trong các bài viết trên Vietnam Financial Review, tôi luôn phát biểu rằng Việt Nam còn chỗ cho chính sách tiền tệ, tức là giảm lãi suất chủ đạo của NHNN. Theo một ý kiến, thì lãi suất ở Việt Nam có lẽ đã chạm sàn rồi. Lý do là cân bằng về lãi suất (interest rate parity) với lãi suất USD, và rủi ro nội tại của việc giữ đồng VND. Để giữ cho VND là một phương tiện lưu trữ, thì lãi suất VND cũng phải bù (có premium) cho rủi ro về lạm phát và rủi ro về khả năng phá giá đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, có lẽ là thị trường đánh giá cả hai rủi ro này tương đối cao. Nhất là trên thị trường tiền gửi tiết kiệm thì các cá nhân hầu hết có thu nhập trung bình và thấp hơn, nên càng muốn tránh rủi ro (so với thị trường vay), vì thế premium có thể cao. Tổng premium có cao đến mức gần 8% không thì tôi không chắc.

Nếu quan điểm này đúng, thì một cách cởi trói cho Ngân hàng Nhà nước chính là chủ động hạ giá VND. Hiện giờ chủ đề này rất nhậy cảm, và tôi nghĩ là đang nằm trên cân của giới làm chính sách cấp cao. Hạ giá VND (chỉ một lần, bất ngờ) có thể kích thích xuất khẩu, có lẽ là cách kích thích mạnh và ít tốn kém bậc nhất, đồng thời cũng giảm sức ép lên dự trữ Quốc gia (hiện giờ black market premium, tức là chênh lệch tỷ giá thị trường tự do với tỷ giá chính thức, tương đối cao). Tuy vậy, trong thời gian trước mắt (có thể là một hai tháng) nó cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu, từ đó có ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh trong nước, trước khi xuất khẩu kịp tăng và bù lại phần hụt này. Hơn nữa, nếu hạ giá không nhiều như thị trường chờ đợi (nhiều khả năng xảy ra với tình hình chính sách hiện nay), thì dễ tạo nên ấn tượng và kỳ vọng tiếp tục hạ giá trong tương lai, dẫn đến sức ép mạnh hơn lên VND, và còn tạo sự bất cân đối hơn nữa (tuy là nó sẽ góp phần tăng hoạt động trong nước trong ngắn hạn).

Như đoạn phía trên đã phân tích, nếu hạ giá (một lần, bất ngờ) góp phần giảm rủi ro phá giá, thì nó còn có tác dụng mở đường cho việc hạ lãi suất, phần nào chính thức hóa chính sách bù lãi suất giúp doanh nghiệp tránh nợ xấu (một cách bail-out) như hiện nay. Tóm gộp lại, ảnh hưởng của việc hạ giá tương đối hỗn tạp, và cần có đầy đủ thông tin và số liệu mới có thể đánh giá cẩn thận hơn được.

Tạm thời thế đã.