Showing posts with label kinh viện. Show all posts
Showing posts with label kinh viện. Show all posts

Monday, July 20, 2009

Time Inconsistency

Vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian (time inconsistency) là một yếu tố rất quan trọng trong kinh tế học hiện đại; tôi cũng biết từ trước, song đến hôm nay đột nhiên hiểu ra nó còn quan trọng hơn cả tầm quan trọng lúc trước mình vẫn nghĩ.

Nói chung chung, time inconsistency chỉ trường hợp một cá thể kinh tế phải đối diện với cùng một quyết định tại hai thời điểm khác nhau, mà quyết định tối ưu ở mỗi thời điểm một khác. Ví dụ, một sinh viên phải tính trước quyết định từ năm thứ nhất là đến năm thứ hai sẽ làm gì, sau đó đến năm thứ hai thì thực sự thi hành. Vấn đề nảy sinh nếu sinh viên này từ đầu nghĩ rằng nên học nhiều vào năm thứ hai, còn năm thứ nhất chơi thỏa thích đã; song đến năm thứ hai, thì thực sự sinh viên này lại muốn chơi tiếp. Vì không có cách nào tự ràng buộc vào việc học năm thứ hai (thiếu commitment device), nên cuối cùng sinh viên này chơi hết luôn 2 năm, không học hành gì nữa. (Vô tình ví dụ này lại giống hệt thời học đại học của tôi :D.)

Ví dụ thì tương đối đặc biệt, còn về ý chung, có thể hiểu time inconsistency là sự thiếu hụt một phương tiện thỏa thuận và bảo đảm hợp đồng. Trong ví dụ này, đó là "hợp đồng" giữa sinh viên này năm thứ nhất, và sinh viên này năm thứ hai: dĩ nhiên hai người này không thỏa thuận được với nhau. Cũng có một số cách tạo nên phương tiện bảo đảm hợp đồng, ví dụ như tự đăng ký vào các lớp học không bỏ được, kể với bạn bè rằng sẽ học thực sự vào năm thứ hai, vân vân, song không phương tiện nào hoàn hảo, và lúc nào cũng có cách tháo gỡ cả.

Nôm na về time inconsistency là như thế. Bây giờ nói đến ảnh hưởng trên lý thuyết kinh tế của khái niệm này. Khung cơ bản của kinh tế hiện đại là kinh tế tân cổ điển trong đó tất cả các thị trường đều hoạt động tốt, và quan trọng là mọi giao dịch đều được bảo đảm sẽ thực hiện (tức là mọi hợp đồng đều được thực thi) - gốc lý thuyết bắt nguồn từ hệ thống cân bằng tổng thể (từ những người "marginalists" đến Arrow-Debreu, mở rộng thêm tiền tệ, tài chính, vv., cộng với định lý quan trọng về externalities của Coase). Một khi nền tảng giả thiết này không được thỏa mãn, thì kết quả cuối cùng sẽ không còn tối ưu cho tất cả mọi cá thể nữa, và thường liên quan đến một vấn đề kinh tế thú vị.

Đây là những vấn đề thú vị tôi nhận ra có liên hệ mật thiết với khái niệm time inconsistency. Đầu tiên là sự "khám phá" ra khái niệm này, nhờ đó Kydland và Prescott đã được giải Nobel (thực ra 2 ông còn có công xây dựng mô hình Real Business Cycles nữa) - nguồn gốc thực sự có lẽ từ Keynes, nếu không phải là trước nữa. Sát với khái niệm này trong kinh tế vĩ mô là nghiên cứu của Barro-Gordon về reputation của central banker, cũng là một "Nobel claim" của Robert Barro (cùng với nghiên cứu về Ricardian equivalence). Sau đấy là lý thuyết hợp đồng, với vấn đề hold-up của Oliver Williamson, sau đến lý thuyết property rights của Sanford Grossman, Oliver Hart và John Moore: trong các lý thuyết này, time inconsistency nảy sinh trong quan hệ hợp đồng giữa 2 bên, và cũng không có khả năng đảm bảo hợp đồng ở tòa án (Maskin-Tirole phản đối việc này). Đây cũng là các lý thuyết có "Nobel claim". Tiếp nữa là lý thuyết về intellectual property rights, trong đó việc đảm bảo một thứ quyền nhân tạo như IPR chính là một commitment device để tạo động cơ cho khám phá công nghệ. Lý thuyết này (David Levine có phản đối IPR tương đối hay) dẫn đến lý thuyết tăng trưởng nội sinh thế hệ 2 (Aghion-Howitt), trong đó chính sách nhà nước có tác dụng thúc đẩy nghiên cứu, nhờ làm commitment device cho việc tận dụng thành quả nghiên cứu cho nhà phát minh, nhờ đó tạo ra tăng trưởng nội sinh. Tiếp theo phải nói đến lý thuyết thuế (public finance) giải thích về thuế lên capital chứ không phải labor, cơ bản cũng tạo ra commitment device. Tiếp nữa là lý thuyết về procrastination trong behavioral economics, như là hyperbolic discounting của David Laibson (time inconsistency của cùng 1 cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau, như là ví dụ tôi viết ở trên). Gần đây, đặc biệt có lý thuyết về kinh tế chính trị của Acemoglu-Robinson trong đó một nền độc tài luôn gặp time inconsistency khi muốn đảm bảo không bóc lột dân chúng, và tạo ra commitment device chính nhờ vào việc chuyển đổi thành dân chủ. Gần nhất, lý thuyết quyền sở hữu của Grossman-Hart-Moore mang vào thương mại quốc tế để giải thích quyết định outsource hay FDI (Antras).

Phù, đến hôm nay tôi mới thấy ảnh hưởng rộng lớn của một khái niệm đơn giản như thế. Có lẽ tại vì ngày trước không chịu học hành tử tế.

Bài này chủ yếu là để ghi nhớ ý tưởng, các bạn không quan tâm đến ngành kinh tế chắc là không để ý làm gì.

Sunday, June 21, 2009

Xếp hạng tạp chí khoa học

Bài này của Engemann và Wall trên Fed St. Louis Review (đọc qua blog của Mankiw) đưa ra một cách xếp hạng tương đối đơn giản các tạp chí khoa học kinh tế: Cũng là đếm số lần trích dẫn, nhưng chỉ đếm số lần trích trên các tạp chí kinh tế mục đích chung, chứ không đếm trích dẫn trên các tạp chí chuyên ngành cụ thể. Các tác giả đề xuất luôn những tạp chí mục đích chung hàng đầu để tính trích dẫn, bao gồm QJE, JPE, EM, AER, EJ, REStud, REStat. Cách tính này gọi là xếp hạng cho nhà kinh tế có tham vọng, tức là nhà kinh tế mong muốn bài viết của mình có ảnh hưởng lên cả các tạp chí mục đích chung, chứ không chỉ dừng ở trong lĩnh vực nhỏ của mình.

Bài viết có điểm qua các đề xuất trước đây về việc xếp hạng tạp chí, do các nhà kinh tế học cũng như các nhà khoa học khác đưa ra, và có phân tích ngắn gọn về đặc tính của chúng. Ví dụ, chỉ số H (H-index) mà tôi thấy các nhà khoa học thường dùng, tuy là đơn giản dễ tính, song lại có nhiều lỗ hổng dễ tạo nên sự thiên lệch không hợp lý. Có một chỉ số do Liewbowitz & Palmer đưa ra tính đến hầu hết các điểm khác biệt, nhưng khi đó hệ thống xếp hạng là lời giải của một bài toán hồi quy phức tạp, nên hệ thống này như một "hộp tối" mà người ta không nắm rõ cơ chế hoạt động.

Điểm thú vị về cách xếp hạng mới này, chính là kết quả của nó rất ổn định với top 5 (QJE, JPE, EM, AER, REStud). Tôi nghĩ là người ta tương đối thống nhất về top 5 tạp chí hàng đầu kinh tế, tuy vậy theo nhiều bảng xếp hạng thì top 5 không rõ ràng lắm. Trên bảng xếp hạng này, top 5 rất rõ và chắc chắn; theo tôi, có thể dùng điểm này làm thước đo cho độ tin cậy của bảng xếp hạng đối với phần còn lại. Tất nhiên, nếu chúng ta muốn so sánh từ góc độ khác, thì không hẳn đã nên dùng bảng xếp hạng này: chính các tác giả cũng cảnh báo như vậy.

Update: Giải thích rõ hơn một chút tên viết tắt:
- QJE = Quarterly Journal of Economics
- JPE = Journal of Political Economy
- EM = Econometrica
- AER = American Economic Review
- REStud = Review of Economic Studies.
Theo những gì tôi biết, có thể nói xếp về mặt danh tiếng (những gì người trong nghề coi trọng, không nhất thiết đo đạt bằng chỉ số khách quan được) thì 5 tờ báo này hiện thuộc về hạng hàng đầu trong kinh tế học. Tuy vậy, trên mỗi tờ báo thì các loại bài khác nhau có thể được đánh giá khác nhau. Ví dụ đối với QJE là "sân nhà" của Harvard và MIT, JPE là "sân nhà" của Chicago, thì có người nghĩ bài của gà nhà dễ được thiên vị. Bài trên EM mà không phải micro theory, không phải econometrics, thì được đánh giá cao một bậc nữa. REStud là tờ báo hàng đầu châu Âu (trụ sở ở Anh), tuy vậy hiện giờ Hội Kinh tế học Châu Âu mới mở tờ JEEA (Journal of the European Economic Association) với tham vọng vươn lên tầm hàng đầu như 5 tờ báo này. Trước đây Hội này quản lý tờ EER (European Economic Review), nhưng vì quản lý chung với nhà xuất bản, làm không cẩn thận, nên chất lượng làng nhàng, nhiều loại bài khác nhau.

Wednesday, June 10, 2009

Lạm phát và chi tiêu công

Còn quá nhiều chuyện muốn viết trên blog mà không có thời gian, song có bài này tôi mới đọc thì phải viết ngay, một phần vì có liên quan đến thảo luận trên blog của anh Lê Hồng Giang về tiền tệ và lạm phát. Đây là bài viết ngắn của Casey Mulligan trên blog Economix của NY Times. Bài viết điểm lại quan điểm chi tiêu công nhiều sẽ dẫn đến lạm phát cao. Đầu tiên nhắc đến phán đoán của Keynes trong "The Economic Consequences of Peace" về nước Đức nặng nợ sau Thế Chiến I, mà hậu quả là siêu lạm phát, đến nỗi dẫn đến thể chế Quốc Xã. Sau đó bài viết đưa ra quan sát thực chứng, từ nghiên cứu của chính Mulligan, rằng quan hệ giữa lạm phát và chi tiêu công là rất yếu; nếu có, đó là quan hệ giữa lạm phát với chi tiêu cho quân sự mà thôi. Một luận điểm giải thích là thời nay các chính quyền dễ dàng đánh thuế bằng nhiều cách, do đó không cần phải dùng đến thuế bằng lạm phát (seigniorage). Và mức nợ công hiện nay của nước Mỹ, cho dù là một phần không nhỏ của GDP, còn thua xa mức nợ mà nước Đức bại trận sau Thế Chiến I phải gánh vác.

Điểm đáng chú ý nhất đối với tôi là sự khác biệt giữa nội dung bài viết và ý thức hệ của Mulligan. Mulligan là giáo sư ở Chicago, và từ trước đến nay thường thể hiện quan điểm theo trường phái tự do (laissez-faire), phản đối vai trò nhà nước. Một trong những luận điểm quan trọng của trường phái này là ảnh hưởng không tốt của chi tiêu công, kể cả về mặt hiệu quả lợi ích, lẫn mặt ổn định kinh tế mà nội dung chủ yếu là sự ảnh hưởng xấu đến mức lạm phát. Như thế, bài nghiên cứu (và do đó là bài blog) của Mulligan phần nào đi ngược lại quan điểm ý thức hệ (phần nào thôi, vì tôi dám chắc Mulligan vẫn rất tin rằng chi tiêu công không có hiệu quả lợi ích). Tôi khâm phục sự liêm khiết về khoa học này của ông. Sự liêm khiết này, như trong tất cả các lĩnh vực khác, không phải dễ dàng mà có, mà giữ được.

Update: Viết xong bài mới nhớ ra một điểm quan trọng, là ở Việt Nam thì chi tiêu công quá đà đã dẫn đến lạm phát cao. Một phần quan trọng của chi tiêu công ở Việt Nam là chi tiêu của các Tổng Công ty/Tập đoàn Nhà nước, bắt nguồn từ việc vay nợ dễ dàng, nhiều ưu đãi. Hình thức này tự nó đã tăng tổng tín dụng trong nước lên nhiều, trong khi đó Ngân hàng Nhà nước lại không có đủ tự chủ để kiểm soát tình hình cung tiền. Vả lại, đến lúc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản, thì người gánh chịu là bộ phận lớn doanh nghiệp tư nhân/doanh nghiệp Nhà nước nhỏ, hậu quả là ảnh hưởng nặng đến tăng trưởng. Tham khảo từ các bài phân tích chính sách của trường Fulbright, tôi nghĩ đây là những gì đã xảy ra ở Việt Nam dịp 2007-2008.

Saturday, June 6, 2009

Điểm nghiên cứu kinh tế - I

Trong quỹ thời gian làm việc của tôi, có một phần dành cho việc đọc qua nghiên cứu kinh tế nói chung (không nhất thiết liên quan đến nghiên cứu cá nhân, miễn là thuộc về các chủ đề tôi quan tâm). Có lẽ bây giờ sẽ điểm lại trên blog, một là để cho khỏi quên, hai là để chia sẻ với người đọc, nếu có người quan tâm.

Trong số vừa rồi của QJE (Quarterly Journal of Economics) tháng 5 năm 2009, có những bài đáng chú ý sau: (nếu không có subscription vào QJE, chắc phải google theo tên của tác giả để tìm bản working paper)
  1. Was Weber Wrong? A Human Capital Theory Of Protestant Economic History (Sascha O. Becker and Ludger Woessmann):
    MaxWeber attributed the higher economic prosperity of Protestant regions to a Protestant work ethic. We provide an alternative theory: Protestant economies prospered because instruction in reading the Bible generated the human capital crucial to economic prosperity. We test the theory using county-level data from late-nineteenth-century Prussia, exploiting the initial concentric dispersion of the Reformation to use distance toWittenberg as an instrument for Protestantism.We find that Protestantism indeed led to higher economic prosperity, but also to better education. Our results are consistent with Protestants’ higher literacy accounting for most of the gap in economic prosperity.
    Bài này sẽ rất thú vị cho những ai quan tâm đến học thuyết của Weber. Tác giả khẳng định quan sát của Weber rằng các nước có truyền thống Tin Lành phát triển kinh tế nhanh hơn, song chứng minh rằng kênh truyền dẫn đơn giản qua đường giáo dục (dân phải biết đọc thì mới tự đọc được Kinh thánh) có thể giải thích sự chênh lệch này tốt và đúng hơn nhiều so với kênh truyền dẫn qua văn hóa theo thuyết của Weber (như thế không có nghĩa là ý của Weber hoàn toàn không xảy ra trong thực tế - nó chỉ yếu thế hơn nhiều so với lời giải thích kia thôi). Khá thú vị. Chắc tôi sẽ cố gắng đọc kỹ thêm.
  2. The Diffusion Of Development (Enrico Spolaore and Romain Wacziarg)
    We find that genetic distance, a measure associated with the time elapsed since two populations’ last common ancestors, has a statistically and economically significant effect on income differences across countries, even controlling for measures of geographical distance, climatic differences, transportation costs, and measures of historical, religious, and linguistic distance. We provide an economic interpretation of these findings in terms of barriers to the diffusion of development from the world technological frontier, implying that income differences should be a function of relative genetic distance from the frontier. The empirical evidence strongly supports this barriers interpretation.
    Bài này tận dụng dữ liệu genes ở mức quốc gia, cũng khá thú vị. Tôi đã được nghe bài này cách đây 3 năm, và đến giờ không thấy có khác biệt gì mấy (một lần nữa cho thấy thời gian chờ đợi xuất bản rất lâu trong kinh tế học). Cũng đáng đọc.
  3. Do Higher Prices For New Gôds Reflect Quality Growth Or Inflation? (Mark Bils)
    Much of Consumer Price Index (CPI) inflation for consumer durables reflects shifts to newer product models that display higher prices, not price increases for a given set of goods. I examine how these higher prices for new models should be divided between quality growth and price inflation based on (a) whether consumer purchases shift toward or away from the new models and (b) whether new-model price increases generate higher relative prices that persist through the model cycle. I conclude that two-thirds of the price increases with newmodels should be treated as quality growth. This implies that CPI inflation for durables has been overstated by almost 2 percentage points per year, with quality growth understated by the same magnitude.
    Bài này cũng rất đáng đọc, và chắc sẽ phải đọc. Câu hỏi chính là trong chỉ số lạm phát có bao nhiêu phần là lạm phát thực thụ, bao nhiêu phần xuất phát từ tăng chất lượng mặt hàng. Câu hỏi này không mới, dù là tôi chưa thấy ai giải quyết được, và không biết trong bài Mark Bils giải quyết được bao nhiêu phần, chắc chắn thế nào. Không rõ nếu phân tích ở Việt Nam thì bao nhiêu phần của lạm phát thuộc về tăng chất lượng. Dù nhiều người nhắc đến sự tha hóa chất lượng hàng hóa ở Việt Nam, tôi nghĩ là nhìn chung chất lượng hàng hóa vẫn tăng tương đối, vì Việt Nam phát triển nhanh, người dân nhanh chóng chuyển sang các mặt hàng chất lượng tốt hơn (phần lớn là nhập khẩu).
Ngoài ra còn nhiều bài hay khác, song tôi không chú ý nhiều.

Saturday, April 25, 2009

Emmanuel Saez được John Bates Clark medal.

Emmanuel Saez, nhà kinh tế người Pháp ở Đại học UC Berkeley, mới được nhận John Bates Clark medal năm nay. Huy chương J. B. Clark được trao 2 năm 1 lần cho 1 nhà kinh tế ở Mỹ (không cần phải là người Mỹ) dưới 40 tuổi có thành tích nghiên cứu nổi bật. Lịch sử cho thấy rất nhiều người được huy chương Clark sau này sẽ được giải Nobel cho kinh tế.

Tôi hơi ngạc nhiên với người được giải, một phần vì tôi ít quan tâm đến các vấn đề cách đánh thuế tối ưu (optimal taxation), một chủ đề quan trọng mà Saez có cống hiến đáng kể. Tôi biết đến Saez nhiều hơn qua nhánh nghiên cứu về xác định phân bốthu nhập dựa vào thông tin thuế, mà điển hình là nghiên cứu với Thomas Piketty về phân bố thu nhập ở Mỹ trong suốt thế kỷ 20. Nghiên cứu này đăng trên QJE (trong hướng này, Saez có một vài bài khác trên QJE, AER vv.), nhưng tôi không quá ấn tượng về phương pháp. Có lẽ sẽ phải đọc lại một lúc khác.