Friday, June 12, 2009

Giá nhà ở Singapore


Đồ thị này thể hiện giá trung vị (median) của nhà chung cư cao cấp (condominium) ở khu vực trung tâm Singapore (central region). Đơn vị tính là SGD/m2. Các bạn năm nay đi tìm thuê nhà ở Singapore thì thoải mái hơn so với cùng kỳ năm ngoái rất nhiều. Giá nhà tính từ đỉnh điểm là Quý 2, 2008, đến hết Quý 1, 2009 đã giảm đến 25%, và đồ thị cho thấy xu hướng còn giảm thêm nữa. Trên đồ thị thấy rất rõ bong bóng nhà đất trước khủng hoảng 1997 cũng như trước cuộc khủng hoảng hiện nay. Nếu nhìn xu hướng dài hạn, có thể thấy là kinh tế Singapore giữ mức lạm phát giá nhà khá ổn. Tuy vậy, nhìn vào chất lượng chính sách ngắn hạn thì thấy rằng Singapore không có phản ứng chính sách đối với bong bóng giá nhà đất, và thực tế đã để cả hai cuộc khủng hoảng làm vỡ bong bóng. Ngoài ra còn có giai đoạn 1999-2000 giá nhà cũng tăng cao, song tôi nghĩ rằng đấy là nhờ vào sự phục hồi từ khủng hoảng 1997 mà thôi.

Nói như vậy là nói từ góc độ nhìn lại lịch sử. Còn thực ra trong những thời kỳ khó khăn dẫn đến khủng hoảng, rất khó có thể đưa ra dự đoán có cơ sở lý thuyết vững chắc, chứ không phải là đoán mò ăn may.

Thursday, June 11, 2009

American Academy of Arts and Sciences

Cuối tháng 4 vừa rồi, American Academy of Arts and Sciences bầu thêm thành viên mới theo định kỳ hàng năm. (Tôi tạm dịch đây là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Mỹ - theo đó, tôi dịch Arts là Khoa học và Sciences là Công nghệ.) Trong danh sách này, tôi chú ý nhất đến các nhà kinh tế học, trong đó có ông thầy Philippe Aghion:
  • Aghion, Philippe - Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • Bolton, Patrick - Columbia University, New York, New York
  • Duflo, Esther - Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, Massachusetts
  • Gibbons, Robert S. - Massachusetts Institute of Technology, Cambridge, Massachusetts
  • Imbens, Guido W. - Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • Jackson, Matthew O. - Stanford University, Stanford, California
  • Rajan, Raghuram G. - University of Chicago Graduate School of Business, Chicago, Illinois
  • (Foreign Honorary Member) Dewatripont, Mathias - Université Libre de Bruxelles, Brussels, Belgium
Ngoài ra, có Benjamin Friedman ở Khoa Kinh tế, Harvard, nhưng được bầu vào theo diện "Public Affairs, Journalism and Communications", cũng tương đối hợp lý :-).

Danh sách có điểm đáng chú ý nhất là Esther Duflo: cô còn rất trẻ, chưa đến 40 tuổi (năm tới vẫn còn dịp chiếm Huy chương John Bates Clark). Tôi nghĩ đây là trường hợp khá ngoại lệ. Hiện giờ, đã rất nhiều người dự đoán Duflo sẽ đoạt Huy chương Clark vào năm tới. Khi The Economist liệt kê các nhà kinh tế trẻ tuổi đáng chú ý nhất (họ làm 10 năm 1 lần), rất nhiều nhà kinh tế đã coi Duflo quá thành đạt để có thể gọi là "trẻ" ! (Tôi lười quá không tìm lại bài báo này.) Tôi có học lớp Kinh tế Phát triển của Duflo. Ngoài đời, cô nhanh nhẹn, khá vui tính, nói tiếng Anh giọng Pháp nặng.

Một điểm khác là danh sách chung (liên kết chỉ có đến năm 2008) các thành viên về kinh tế học của Viện có vẻ có hơi nhiều người ở Harvard/MIT so với các trung tâm khác như Chicago/Northwestern hay Stanford/Berkeley. Cũng có thể là Harvard/MIT quen thu hút nhiều người xuất sắc về đấy. Tuy nhiên, tôi nghĩ cách giải thích hợp lý hơn là Trung tâm của Viện đặt ở Cambridge, nơi có 2 trường Đại học danh tiếng này.

Ngoài kinh tế học, cũng có nhiều cá nhân đặc biệt được bầu trong năm nay. Tôi biết đến những người này:
  • (Toán học) Tao, Terence - University of California, Los Angeles, California. Terence Tao là thần đồng nổi tiếng thế giới về Toán học, được Huy chương Fields cách đây mấy năm.
  • (Khoa học chính trị) Pettit, Philip Noel - Princeton University, Princeton, New Jersey
  • Simmons, Beth A. Harvard University, Cambridge, Massachusetts
  • (Khoa học nhận thức - Neurosciences, Cognitive Sciences, and Behavioral Biology) Hofstadter, Douglas R. Indiana University, Bloomington, Indiana
  • (Nghệ thuật) Dustin Hoffman
  • Wong, Kar-Wai
  • Bono
Ngoài ra cũng có diện hoạt động chính trị, kinh doanh, phi lợi nhuận, trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ là Robert Gates, Giám đốc Viện Brooking là Strobe Talbott, và 2 directors của McKinsey.

Wednesday, June 10, 2009

Khủng hoảng lương thực: ngắn hạn, dài hạn, rủi ro, hiệu quả

Anh Linh có bình luận về một nhận xét của Krugman trong tọa đàm ở Hà Nội, tôi trích ra đây để phân tích thêm. Nhân đây cũng đăng luôn liên kết đến bản tường thuật buổi tọa đàm do Bộ Ngoại giao soạn, tôi nghĩ là rất sát với thực tế (có thể lệch một vài từ ngữ không đáng kể), tôi thấy liên kết này qua blog của anh Lê Hồng Giang.

Linh said...

Về vấn đề giáo dục: đúng là hơi lạ vì tôi ít thấy Krugman nhắc tới vấn đề giáo dục từ trước tới nay.

Cái ví dụ mà QA nói xem ra cũng chưa rõ ràng lắm: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng. Tôi không hiểu ý Krugman ở đây là gì nhưng vấn đề ở đây là việc người ta bỏ trồng lương thực để chăn nuôi nhằm đáp ứng sự chuyển dịch của cách thức ăn uống (tăng thịt, giảm ngũ cốc) và đó là một phần nguyên nhân của khủng hoảng lương thực gần đây.

Nếu xu hướng này tiếp tục thì giá lương thực sẽ có xu hướng tăng trong dài hạn nhưng điều đó không có nghĩa là cầu lương thực tăng mà chỉ đơn giản là cung lương thực bị hạn chế.

Trong ngắn hạn, tôi nghĩ cầu lương thực khá ổn định và không phụ thuộc nhiều vào khủng hoảng do độ co giãn của cầu lương thực với giá thấp. Lý do giá lương thực hiện nay giảm là vì giá năng lượng giảm cộng với các chính sách bảo hộ của các nước (như Trung Quốc mới hạn chế nhập khẩu hàng nông sản của Việt Nam). Vì thế nếu khủng hoảng hồi phục thì giá lương thực sẽ có xu hướng tăng nhưng chắc rằng không thể nào tăng như trong năm 2008 được. Cuộc khủng hoảng giá lương thực năm 2008 trầm trọng còn do chính sách lợi mình, hại người của nhiều quốc gia khi hạn chế xuất khẩu.

Ý của Krugman như thế này: khi các nước từng bước phát triển, thì nhu cầu của con người không chỉ dừng lại ở mức đủ no bằng lương thực, mà người ta còn muốn ăn thêm thịt nữa. Vì trung bình 7 phần lương thực mới sản xuất ra được 1 phần thịt, nên khi nhu cầu tiêu thụ chuyển sang thịt thì tổng nhu cầu đối với lương thực sẽ tăng lên tương đối. (Tôi nghĩ cung cấp thịt chính thì vẫn là chăn nuôi chứ không phải săn bắt, hay là đánh bắt hải sản.) Vì thế mới nói là tổng nhu cầu lương thực về lâu dài sẽ tăng lên, trong khi năng suất chưa chắc đã theo kịp, nên giá lương thực có thể cũng tăng nữa. Kết luận như vậy thực ra cũng phải giả thiết ngầm rằng cung lương thực không tăng nhanh bằng cầu. Cho dù năng suất lương thực tính theo diện tích đất và người lao động không tăng nhanh, tôi nghĩ là còn nhiều yếu tố khác làm cho cung tăng, ví dụ như người lao động ở Châu Phi có thể chuyên tâm trồng trọt, không phải lo chạy chiến tranh, xung đột, bóc lột, thì dĩ nhiên cung lương thực cũng sẽ tăng thêm nữa. Ý của Krugman như vậy cũng tương đồng với ý của bác Linh, khi bác nói đến việc bỏ trồng trọt, chuyển sang chăn nuôi.

Về việc các nước bảo hộ nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp lẫn an toàn lương thực, tôi nghĩ cũng là kết quả tất yếu của quá trình chính trị ở mọi nơi. Nhất là ở các nước nghèo, thì chế độ chính trị nào cũng phải đảm bảo an toàn lương thực mới mong giữ vững được. Tôi nghĩ đấy là hệ quả của cuộc khủng hoảng lương thực, không phải là mấu chốt.

Tôi nghĩ đặc điểm cơ sở của cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008 chính là sự tương phản (trade-off) giữa rủi ro và thu hoạch (risk vs. return), nhìn trên góc độ toàn cầu. Trên góc độ toàn cầu, chỉ cần sản xuất lương thực vừa đủ, sau đó thương mại quốc tế sẽ giúp cân bằng cung và cầu ở khắp mọi nơi. Tuy vậy, đấy là trong thời điểm cân bằng. Khi thị trường mất cân bằng chút ít, thì thường có những lực lượng cản trở (friction) làm cho thị trường khó trở lại cân bằng hơn. Kinh nghiệm 2008 cho thấy những lực lượng này tương đối mạnh: đó là can thiệp bảo hộ của hầu hết các nước (Việt Nam cũng tương đối thô bạo), là sự bấp bênh về giá cả sản xuất (nhất là giá dầu), là sự bấp bênh, không dự đoán trước được về thiên nhiên, là sự chuyển dịch quá nhanh ra khỏi cây lương thực cơ bản. Trong một thời điểm có nhiều điều tệ hại cùng xảy ra, thì tác hại có thể khá lớn.

Vẫn biết là dài hạn thì giá cả sẽ dần dần điều chỉnh, và thị trường vẫn hoạt động tốt. Tuy vậy, ngắn hạn cũng rất quan trọng, và câu nói của Keynes "In the long run we are all dead" thì đặc biệt có ý nghĩa với những người nghèo khổ sống ngày qua ngày nhờ vào mức lương thực tối thiểu: nếu chờ đợi thị trường giải quyết vấn đề "in the long run", thì có thể họ đã chết cả rồi.

Kinh nghiệm 2008 có thể là một bài học tốt về sự tương phản risk-return, short run stability - long run efficiency. Tuy vậy, khủng hoảng lương thực nhường chỗ cho khủng hoảng tài chính có thể đã làm cho người ta quên khuấy đi mất vấn đề sống còn đối với người nghèo này.

Lạm phát và bóng đá

Nhân tiện nói về lạm phát, tôi mới xem biểu đồ này từ BBC. Giá mà biểu đồ có sự so sánh với một mức giá cố định, thay vì để các con số nominal như thế này. Và giá mà biểu đồ tính mức độ lạm phát từng năm để có thể so sánh. Tính tổng hợp lại, tôi nghĩ là lạm phát thực trong bóng đá cũng vẫn cao hơn nhiều mức lạm phát của nước Anh (hay các nền kinh tế chính ở châu Âu). Lý giải có lẽ là việc ngành kinh doanh bóng đá có doanh thu tăng nhanh hơn nhiều tốc độ tăng GDP. Hơn nữa, tốc độ tập trung doanh thu cũng tăng nhanh, do đó nếu chỉ nhìn vào những CLB hàng đầu thì tốc độ tăng doanh thu càng cao nữa (cho dù họ cũng phải chịu một số loại "thuế" mang tính cào bằng, ví dụ như việc chia tiền quảng cáo/truyền hình cho các sự kiện lớn). Tốc độ tăng doanh thu một phần phụ thuộc vào sự bành trướng của ngành này ra ngoài châu Âu (mà bóng đá Anh thành công nhất).

Tuy vậy, bóng đá có một điểm khác các lĩnh vực có hiện tượng "superstar" khác (CEO ở Wall St., siêu sao điện ảnh, golf, Formula 1, tennis, hay thậm chí là bóng rổ Mỹ, vv.), đấy là tính đồng đội: Tính đồng đội làm giảm bớt tầm quan trọng của superstar đối với kết quả đi rất nhiều. Nếu bóng đá chỉ là một môn thể thao mà mỗi đội có 5 người chơi, tôi nghĩ là tốc độ tăng giá và thu nhập của các ngôi sao sẽ còn cao hơn nhiều so với biểu đồ này.

À, cũng phải nói thêm là bóng đá vẫn còn hệ thống độc quyền tổ chức rất mạnh, giống như môn bóng đá Mỹ, vì thế, người lao động (hay là ngôi sao) sẽ được hưởng ít hơn từ việc tăng doanh thu chung. Một minh chứng là khi có luật Bosman, hệ thống độc quyền trong chuyển nhượng bị phá bỏ, nên giá chuyển nhượng (và cả lương bổng) tăng lên khá nhanh.

Lạm phát và chi tiêu công

Còn quá nhiều chuyện muốn viết trên blog mà không có thời gian, song có bài này tôi mới đọc thì phải viết ngay, một phần vì có liên quan đến thảo luận trên blog của anh Lê Hồng Giang về tiền tệ và lạm phát. Đây là bài viết ngắn của Casey Mulligan trên blog Economix của NY Times. Bài viết điểm lại quan điểm chi tiêu công nhiều sẽ dẫn đến lạm phát cao. Đầu tiên nhắc đến phán đoán của Keynes trong "The Economic Consequences of Peace" về nước Đức nặng nợ sau Thế Chiến I, mà hậu quả là siêu lạm phát, đến nỗi dẫn đến thể chế Quốc Xã. Sau đó bài viết đưa ra quan sát thực chứng, từ nghiên cứu của chính Mulligan, rằng quan hệ giữa lạm phát và chi tiêu công là rất yếu; nếu có, đó là quan hệ giữa lạm phát với chi tiêu cho quân sự mà thôi. Một luận điểm giải thích là thời nay các chính quyền dễ dàng đánh thuế bằng nhiều cách, do đó không cần phải dùng đến thuế bằng lạm phát (seigniorage). Và mức nợ công hiện nay của nước Mỹ, cho dù là một phần không nhỏ của GDP, còn thua xa mức nợ mà nước Đức bại trận sau Thế Chiến I phải gánh vác.

Điểm đáng chú ý nhất đối với tôi là sự khác biệt giữa nội dung bài viết và ý thức hệ của Mulligan. Mulligan là giáo sư ở Chicago, và từ trước đến nay thường thể hiện quan điểm theo trường phái tự do (laissez-faire), phản đối vai trò nhà nước. Một trong những luận điểm quan trọng của trường phái này là ảnh hưởng không tốt của chi tiêu công, kể cả về mặt hiệu quả lợi ích, lẫn mặt ổn định kinh tế mà nội dung chủ yếu là sự ảnh hưởng xấu đến mức lạm phát. Như thế, bài nghiên cứu (và do đó là bài blog) của Mulligan phần nào đi ngược lại quan điểm ý thức hệ (phần nào thôi, vì tôi dám chắc Mulligan vẫn rất tin rằng chi tiêu công không có hiệu quả lợi ích). Tôi khâm phục sự liêm khiết về khoa học này của ông. Sự liêm khiết này, như trong tất cả các lĩnh vực khác, không phải dễ dàng mà có, mà giữ được.

Update: Viết xong bài mới nhớ ra một điểm quan trọng, là ở Việt Nam thì chi tiêu công quá đà đã dẫn đến lạm phát cao. Một phần quan trọng của chi tiêu công ở Việt Nam là chi tiêu của các Tổng Công ty/Tập đoàn Nhà nước, bắt nguồn từ việc vay nợ dễ dàng, nhiều ưu đãi. Hình thức này tự nó đã tăng tổng tín dụng trong nước lên nhiều, trong khi đó Ngân hàng Nhà nước lại không có đủ tự chủ để kiểm soát tình hình cung tiền. Vả lại, đến lúc Ngân hàng Nhà nước tăng lãi suất cơ bản, thì người gánh chịu là bộ phận lớn doanh nghiệp tư nhân/doanh nghiệp Nhà nước nhỏ, hậu quả là ảnh hưởng nặng đến tăng trưởng. Tham khảo từ các bài phân tích chính sách của trường Fulbright, tôi nghĩ đây là những gì đã xảy ra ở Việt Nam dịp 2007-2008.

Saturday, June 6, 2009

Điểm nghiên cứu kinh tế - I

Trong quỹ thời gian làm việc của tôi, có một phần dành cho việc đọc qua nghiên cứu kinh tế nói chung (không nhất thiết liên quan đến nghiên cứu cá nhân, miễn là thuộc về các chủ đề tôi quan tâm). Có lẽ bây giờ sẽ điểm lại trên blog, một là để cho khỏi quên, hai là để chia sẻ với người đọc, nếu có người quan tâm.

Trong số vừa rồi của QJE (Quarterly Journal of Economics) tháng 5 năm 2009, có những bài đáng chú ý sau: (nếu không có subscription vào QJE, chắc phải google theo tên của tác giả để tìm bản working paper)
  1. Was Weber Wrong? A Human Capital Theory Of Protestant Economic History (Sascha O. Becker and Ludger Woessmann):
    MaxWeber attributed the higher economic prosperity of Protestant regions to a Protestant work ethic. We provide an alternative theory: Protestant economies prospered because instruction in reading the Bible generated the human capital crucial to economic prosperity. We test the theory using county-level data from late-nineteenth-century Prussia, exploiting the initial concentric dispersion of the Reformation to use distance toWittenberg as an instrument for Protestantism.We find that Protestantism indeed led to higher economic prosperity, but also to better education. Our results are consistent with Protestants’ higher literacy accounting for most of the gap in economic prosperity.
    Bài này sẽ rất thú vị cho những ai quan tâm đến học thuyết của Weber. Tác giả khẳng định quan sát của Weber rằng các nước có truyền thống Tin Lành phát triển kinh tế nhanh hơn, song chứng minh rằng kênh truyền dẫn đơn giản qua đường giáo dục (dân phải biết đọc thì mới tự đọc được Kinh thánh) có thể giải thích sự chênh lệch này tốt và đúng hơn nhiều so với kênh truyền dẫn qua văn hóa theo thuyết của Weber (như thế không có nghĩa là ý của Weber hoàn toàn không xảy ra trong thực tế - nó chỉ yếu thế hơn nhiều so với lời giải thích kia thôi). Khá thú vị. Chắc tôi sẽ cố gắng đọc kỹ thêm.
  2. The Diffusion Of Development (Enrico Spolaore and Romain Wacziarg)
    We find that genetic distance, a measure associated with the time elapsed since two populations’ last common ancestors, has a statistically and economically significant effect on income differences across countries, even controlling for measures of geographical distance, climatic differences, transportation costs, and measures of historical, religious, and linguistic distance. We provide an economic interpretation of these findings in terms of barriers to the diffusion of development from the world technological frontier, implying that income differences should be a function of relative genetic distance from the frontier. The empirical evidence strongly supports this barriers interpretation.
    Bài này tận dụng dữ liệu genes ở mức quốc gia, cũng khá thú vị. Tôi đã được nghe bài này cách đây 3 năm, và đến giờ không thấy có khác biệt gì mấy (một lần nữa cho thấy thời gian chờ đợi xuất bản rất lâu trong kinh tế học). Cũng đáng đọc.
  3. Do Higher Prices For New Gôds Reflect Quality Growth Or Inflation? (Mark Bils)
    Much of Consumer Price Index (CPI) inflation for consumer durables reflects shifts to newer product models that display higher prices, not price increases for a given set of goods. I examine how these higher prices for new models should be divided between quality growth and price inflation based on (a) whether consumer purchases shift toward or away from the new models and (b) whether new-model price increases generate higher relative prices that persist through the model cycle. I conclude that two-thirds of the price increases with newmodels should be treated as quality growth. This implies that CPI inflation for durables has been overstated by almost 2 percentage points per year, with quality growth understated by the same magnitude.
    Bài này cũng rất đáng đọc, và chắc sẽ phải đọc. Câu hỏi chính là trong chỉ số lạm phát có bao nhiêu phần là lạm phát thực thụ, bao nhiêu phần xuất phát từ tăng chất lượng mặt hàng. Câu hỏi này không mới, dù là tôi chưa thấy ai giải quyết được, và không biết trong bài Mark Bils giải quyết được bao nhiêu phần, chắc chắn thế nào. Không rõ nếu phân tích ở Việt Nam thì bao nhiêu phần của lạm phát thuộc về tăng chất lượng. Dù nhiều người nhắc đến sự tha hóa chất lượng hàng hóa ở Việt Nam, tôi nghĩ là nhìn chung chất lượng hàng hóa vẫn tăng tương đối, vì Việt Nam phát triển nhanh, người dân nhanh chóng chuyển sang các mặt hàng chất lượng tốt hơn (phần lớn là nhập khẩu).
Ngoài ra còn nhiều bài hay khác, song tôi không chú ý nhiều.

Wednesday, June 3, 2009

Hạ giá đồng Việt Nam - tiếp tục

Hôm trước anh VHLinh và LHGiang có bình luận về bài viết Hạ giá Đồng Việt Nam của tôi, nay tôi tách ra thanh bài viết riêng để trao đổi thêm:


Linh said...

Tôi lại nghĩ việc hạ giá mạnh một lần là rất ít khả năng xảy ra. Thứ nhất, nó đi ngược lại các quan điểm được nêu ra từ trước về chính sách tiền tệ. Trong điều kiện người dân đã ít tin tưởng vào khả năng điều hành kinh tế (và cả chính trị) của chính quyền thì việc hạ giá trái với các tuyên bố trước kia sẽ càng khiến họ mất lòng tin hơn. Và khi đó họ sẽ đổ xô đi mua USD, có thể khiến đồng VND bị hạ giá hơn nữa dẫn tới mất kiểm soát.

Thứ hai là yếu tố tâm lý người dân. Người dân không quen với việc phá giá một lần mà có xu hướng đón đợi sự điều chỉnh giảm giá nhiều lần. Do đó nếu phá giá một lần thì chưa chắc người dân đã tin là phá giá một lần mà lại e rằng Nhà nước sẽ tiếp tục phá giá nữa.

Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?

May 20, 2009 12:35 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

giangle said...

@Linh:
"Một câu hỏi nữa là phá giá tới mức bao nhiêu là hợp lý?"

Câu hỏi này rất hay và cũng liên quan đến expectation của người dân về việc liệu nhà nước có tiếp tục phá giá nữa hay không.

Tôi nghĩ giải pháp cho NHNN là không tuyên bố phá giá mà tuyên bố thay đổi qui chế vận hành của tỷ giá. Ví dụ mở rộng biên độ giao dịch và cho phép dịch chuyển central rate hàng ngày theo biến động của tỷ giá ngày hôm trước (flexible bands).

@QA: Tôi nghĩ một lý do nữa NHNN lưỡng lự chưa cắt lãi suất mạnh và phá giá VNĐ là lạm phát. Mấy tuần vừa rồi các NHTM phải tăng lãi suất huy động, chắc là đang thiếu liquidity chứ không phải vì cần huy động vốn để tăng tín dụng. Bóp nghẹt liquidity có vẻ là preferred policy của NHNN để chống lạm phát như hồi đầu năm ngoái.

May 20, 2009 11:12 AM http://www.blogger.com/img/icon_delete13.gif

Theo tôi, hiện giờ tỷ giá VND so với USD đang chênh vênh, có nghĩa một phần là Nhà nước đang “đánh bạc” rằng đồng USD sẽ giảm xuống so với các đồng tiền thong dụng khác. Nếu điều này xảy ra (hiện giờ đồng USD đã giảm chút ít so với mấy tháng trước), thì sẽ bớt đi nhiều áp lực lên VND, và mọi sự sẽ vẹn toàn. Lúc đó, chính phủ không phải phá giá, không phải thay đổi chính sách, sẽ có khoảng trống để áp dụng thêm chính sách tiền tệ, và có thể tự quảng cáo là bảo vệ thanh công (một lần nữa!) VND trước sức ép đầu cơ của nước ngoài. Bản than thị trường và người dân cũng sẽ có lợi: VND vẫn được giảm giá so với các đồng tiền floating khác (của các đối thủ cạnh tranh trong xuất khẩu), lại không chịu ảnh hưởng gì cả của sự bất ổn định khi có quyết định hạ giá, bất cứ là quyết định kiểu gì. Đây là viễn cảnh huy hoàng, có lợi cho mọi người (ở Việt Nam), và sẽ được tuyên bố và giải thích theo nhiều góc nhìn, thế nào tiện cũng được.

Viễn cảnh nửa vời, là mọi sự cứ diễn biến y hệt như hiện nay, tức là USD vẫn bấp bênh, VND vẫn bấp bênh, và do đó các chính sách tỷ giá và lãi suất vẫn bấp bênh. Tôi có viết một chút về lãi suất trên VFR số tới, hiện giờ báo chưa đăng nên chưa đưa lên blog được. Như hiện giờ, thì Nhà nước phải can thiệp một phần bằng chính sách hành chính, hạn chế quy đổi VND-USD, hạn chế giao dịch bằng USD, vv. Cũng là việc bất đắc dĩ, và chắc chắn ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh.

Viễn cảnh ảm đạm nhất, là USD lại quay lại chiều hướng cao giá như mấy tháng trước. Lúc đó, sức ép lên VND còn tăng cao, và khó có thể thấy khả năng Nhà nước giữ được mức tỷ giá như hiện giờ. Ở đây, đề xuất của anh Lê Hồng Giang là nới lỏng biên độ tỷ giá. Tôi không rõ có ổn không. Dù chênh lệch giữa giá chính thức và giá chợ đen hiện nay chỉ khoảng 3% (18,200 so với 17,700), khi nới lỏng biên độ thì biên độ mới phải rộng gấp 3 lần biên độ cũ. Con số 3 lần có lẽ sẽ được thị trường và người dân hiểu (một cách chính xác) không khác gì hành động hạ giá đáng kể, và sẽ gây nên chuỗi sự kiện (chain reaction) giống như trong trường hợp tuyên bố hạ giá.

Đối với long dân và niềm tin vào chính sách của Nhà nước, tôi nghĩ một kích bản dễ xảy ra là Quốc hội đột ngột chất vấn và yêu cầu hạ giá VND, các báo chí cũng đồng loạt đăng bài kêu gọi hạ giá để giúp xuất khẩu, và việc hạ giá chuyển ngay từ một chủ đề taboo thanh chủ để thời thượng trên tất cả các phương tiện thong tin đại chúng, từ chính quy cho đến ngoài lề. Kết quả là người dân cảm giác như chính mình đang đòi hạ giá VND, và chính phủ sẽ miễn cưỡng hạ giá/nới lỏng biên độ giao dịch. Đây không phải là lần đầu kịch bản như thế này xảy ra, và tôi nghĩ thực sự nó sẽ giúp ổn định nhiều khía cạnh kinh tế trong giai đoạn khó khăn này, trong trường hợp USD lại tăng giá.

Về câu hỏi phá giá bao nhiêu thì hợp lý: Có thể nếu black market premium hiện nay là 3%, thì không cần hạ giá đến mức 3% cũng vẫn củng cố được niềm tin của người cầm VND. Vấn đề là 3% thì Chính phủ vẫn chưa chịu hạ giá (vẫn cầm cự được), và sẽ chỉ hạ giá khi mà premium lên thêm một, hai điểm phần trăm nữa. Lúc đó, có lẽ hạ giá phải đến mức 4-5%.

Về vấn đề lạm phát, tôi nghĩ nó chưa phải là vấn đề đáng lo trong thời gian gần, cho dù đúng là phải theo dõi sát sao. Có lẽ tôi sẽ viết thêm về lạm phát trong một lần khác.

Cuối cùng, tình huống khó xử hiện nay và viễn cảnh nửa vời bấp bênh về tỷ giá làm tôi nhờ đến câu chuyện cái “cân kê” (gân gà) trong truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa. Ngụy Vương Tào Tháo thua trận, muốn rút khỏi cuộc tranh giành Hán Trung với Ích Châu Mục Lưu Bị, song lại sợ bị yếu thế và hổ danh tiếng, suy nghĩ mãi không xong, nhân Hạ Hầu Đôn vào hỏi khẩu lệnh ban đêm, thấy bát canh gà mới buột mồm nói khẩu lệnh là “cân kê”. Quan tòng sự Dương Tu nổi tiếng thông minh, nghe thấy thế liền sai quân lính chuẩn bị hành lý rút lui, giải thích rằng gân gà nhai thì khó, mà bỏ thì không nỡ, song sớm muộn cũng sẽ phải bỏ thôi. Tào Tháo nhân vốn ghét Dương Tu hay phát ngôn quá giới hạn, mới ghép vào tội làm rối long quân mà đem Dương Tu ra chém. Rất đáng tiếc. Không biết thời nay nói nhiều về chủ đề taboo thì có số phận giống Dương Tu không.


Update: Chưa già đã lẫn, hôm nay viết xong đọc lại thấy quen quen, hóa ra là tôi đã viết những ý tương tự trong một bài trước rồi. Bạn đọc thông cảm là tuần vừa rồi tôi bị ốm, chắc vì thế mà đầu óc lộn xộn hết thứ tự thời gian, hì hì.

Tuesday, May 26, 2009

Có cần xấu hổ ?

Nhân sự kiện cựu thủ tướng Hàn Quốc Roh Moo-hyun tự sát, tôi có đọc một số bài viết trên blog của anh Linh và anh Huy Đức về tính "biết xấu hổ". Hai bài viết này làm tôi nghĩ đến sự khác nhau giữa hai phương hướng cải tổ nền pháp trị và chất lượng thể chế của một quốc gia. Hai bài viết nói về vấn đề tham nhũng và hình phạt dựa trên góc độ Đạo đức; tương đồng với nó, là phương hướng cải tổ pháp trị bằng cách tôn cao nền đạo đức. Phương hướng thứ hai là cải tổ nền pháp trị bằng cách tăng cường động lực đối với con người cho các cơ chế pháp luật; các biện pháp này thường không động chạm vào nền tảng đạo đức.

Thường thường, người ta đề cao cả hai phương hướng trong việc xây dựng một nền chính trị sạch và hiệu quả. Việc đề cao cả hai như vậy cần bao gồm một giả thiết ngầm rằng hai phương hướng này bổ sung cho nhau, chứ không đối nghịch với nhau. Trong trường hợp "biết xấu hổ", tôi thấy có cả một chút đối nghịch giữa hai phương hướng này.

Cụ thể, có thể hiểu sự "xấu hổ" là một cá tính, mà mức độ của nó trong từng cá nhân có thể rất khác nhau. Cá tính này có thể có tương quan thuận (positive correlation) đến các cá tính khác cần thiết cho nền pháp trị, như sự trong sạch, liêm khiết, tính dám chịu trách nhiệm, vv. Chúng ta muốn những nhà chính trị có những cá tính cần thiết này: có lẽ là chúng quan trọng hơn bản thân tính biết xấu hổ.

Khi xã hội tôn cao nền đạo đức của tính biết xấu hổ, tôi đoán sẽ có một phần nhỏ chuyển từ "không biết xấu hổ" thành "biết xấu hổ", nhưng phần tác động lớn hơn nhiều là những người vốn đã biết xấu hổ sẽ cảm thấy tủi nhục hơn nữa về những việc "đáng xấu hổ". Những người biết xấu hổ trong các thể chế có dính líu đến những việc đáng xấu hổ sẽ phải dằn vặt thêm vì cảm thấy xấu hổ, có thể là vì chính những hành động sai trái rất nhỏ mà mình đã làm trong quá khứ (các bác có đọc truyện Tiên Trẩn trong Đông Chu Liệt Quốc?), có thể là vì hành động sai trái của người thân (Roh Moo-hyun), cũng có thể là vì những gì thường xuyên xảy ra xung quanh họ (ví dụ về những người từ quan về quê vô số kể). Cuối cùng, tác động chung đối với nền pháp trị là phần lớn những người biết xấu hổ (cũng là những người có nhiều năng lực hơn và trong sạch hơn) sẽ dần dần bị đẩy ra khỏi hàng ngũ chính trị, thay vào đó là những người ít nhậy cảm hơn với những việc "đáng xấu hổ". Vì thế, cho dù mặt bằng đạo đức, đo bởi độ nhậy cảm với những việc đáng xấu hổ, có thể được tôn cao lên, thì kết cục là chất lượng nền pháp trị lại đi xuống.

Không phải đi đâu xa, tôi nghĩ quá trình tiến hóa của thể chế chính quyền ở Việt Nam trong những năm 1990 có hơi hướng thể hiện xu hướng như vậy. Đạo đức của sự biết xấu hổ đã góp phần thay đổi cơ cấu lãnh đạo ở Việt Nam trong thời kỳ này. Ví dụ có rất nhiều, tương đối nhậy cảm nên không nêu ra được.

Ngược lại với việc tôn cao mặt bằng đạo đức, nếu như giảm tầm quan trọng của đạo đức xấu hổ, giảm sự suy xét hậu quả của việc làm thiếu trách nhiệm, thay vào đó là tôn vinh kết quả công việc có kết quả tốt và hiệu quả cao, thì liệu có thể đảo ngược xu hướng thay đổi cơ cấu như vậy không? Tôi không có câu trả lời chính xác: không phải quá trình nào cũng có thể đảo ngược đơn giản bằng cách đảo ngược nguyên nhân. Muốn trả lời chính xác, phương pháp khoa học nhất là thí nghiệm ngẫu nhiên. Trên thực tế, chúng ta không thể nào có sự ngẫu nhiên, cũng không thể có thí nghiệm.

Monday, May 25, 2009

Người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Mỹ

Đây là một bài tôi viết trên blog 360 độ cách đây một thời gian về người gốc Việt đầu tiên trúng cử vào Quốc hội Mỹ. Hôm nay vô tình thấy bài này trên BBC tiếng Việt, nên post lại đây để đối chiếu về dự đoán trong bài trước của tôi.

First Vietnamese American in US Congress

That is the piece of news on the NY Times that I spotted a couple of days ago. In a predominantly black and Democratic district in Louisiana, a certain Mr. Anh Cao, first generation migrant from Vietnam, defeated the long-term black Democrat incumbent, only a few weeks after the first black presidential candidate from a major party defeated the incumbent party's candidate. It is true that the Democrat incumbent, Rep. William J. Jefferson comes into the election with an infamous burden of FBI files full of corruption charges. It is also true that since the election was delayed due to hurricane Gustav, black turnout diminished significantly, compared to what would have been the case on Nov. 4. But it does not take out a bit of prestige from the unlikely victory of the first Vietnamese American Congressman.

What is more interesting to me is not really the hype of the unprecedented event (everything has a beginning, you may say), but the nature of the man that would soon stand for a whole immigrant community. I would scribe down a few points about him, through stereotypical glasses of that community.

First, he is highly religious, stereotypical of most Vietnamese Americans living in Vietnamese American communities I know. Second, like many first-generation immigrants, he suffered fatefully harsh childhood and adolescence, and decidedly worked hard as a response to the ordeal. Third, he is Republican. The last fact gathers a lot of stereotypical characters of the Vietnamese American communities. Exiled for different reasons, they regroup with a strong belief in God and superhuman forces that have saved them through the numerous obstacles they had to face. They have little belief in government, of any kind, and choose to work as hard as they can, wishing the society to leave everything into the invisible hand of the market. And they hold a diehard view on how to win wars and respect the military. These traits fit well into the staunch ideological lines of the Republican Party. While Obama might have been a bit more appealing to Vietnamese American than other Democratic candidates used to be, this socially coherent group of immigrants should not be expected to change their mind any time soon. (In the presidential election, Orange County still remains the only red county on the Californian coastline.)

Freedom and Heritage people, as my friend Filipe jokingly refers to the exiled community of Vietnamese Americans (after I explained why and how they wanted to stay loyal to their historical yellow and red stripes banner), face several paths. The two most common paths are bifurcated from what they have always been following: work hard, believe in God and fate, but do not believe in government and politics. The more able, or better educated, or simply luckier (choose your politically correct version), get even better opportunities through hard study and hard work, and nominally integrate into the American society thanks to a combination of a good job that commands social respect, a good saving, and a relatively quiet approach to social life. They sit back and enjoy the freedom their society gives them, but do not think of joining it. The rest, more numerous and more diverse, self-concentrate in strongly segregated communities, and rely on the maintenance of such communities, out of which they would scarcely survive.

There are now newer paths. Many Vietnamese Americans choose to go to Vietnam, establish a link between the two countries, or even settle down in Vietnam (a recent example springs to mind). Many others, mostly second-and-more generation Americans, live a full American dream, like Americans do. The full American dream oftentimes sends the Freedom and Heritage political view to oblivion; but a few like Mr. Anh Cao will not forget it. First, Mr. Anh Cao had first hand experience of the War and its consequences, and he made no attempt hiding his view that there is no unwinnable war. Second, he will soon become the emblem of a community hitherto relatively uninvolved in American politics, and the mobilization of that community means more votes. For a politician as he is, such opportunities will not be bypassed.

Following the symbolic win of Mr. Anh Cao, many Vietnamese Americans will again take up his path, and reheat the Freedom and Heritage cause. He will be their symbolic, if not effective leader. Vietnamese Americans will invest more time and effort in the real American politics, not their own fictive nostalgic comedies. They will soon make their names heard, if not their voices.

These are my predictions. And I am not sure what that will mean to the other Vietnamese, those who live in Vietnam.

Update: Tiên đoán quan trọng nhất, theo tôi, là tiên đoán về ảnh hưởng đối với Việt Nam, mà tôi không tiện viết ra trong bài trên. Tôi không có cảm giác vui hay buồn về tất cả những mẩu tin và nhận xét ở đây: tôi nghĩ là quá sớm để có thể nói đến ảnh hưởng đối với người Việt ở Việt Nam.

Saturday, May 23, 2009

Ngữ pháp: quy chuẩn và tự do

Bài này viết về một quan điểm về ngữ pháp mà tôi đồng tình. Nói tóm gọn, quan điểm của tôi là bản thân ngôn ngữ và các quy tắc của ngôn ngữ (bao gồm ngữ pháp, nội dung ý nghĩa từ ngữ vv.) có mục đích cơ bản, quan trọng nhất là truyền tải thông tin để tạo kênh thông hiểu giữa các cá nhân: communicate to coordinate & cooperate. Tôi không tin vào giá trị mỹ học nội tại hay thuần túy trong ngôn ngữ. Một nhóm người có thể thấy ngôn ngữ của một đoạn văn, đoạn thơ đặc biệt hay hay đẹp, song theo tôi đó là cảm giác cá nhân, xây dựng trên nền tảng giáo dục và kinh nghiệm hiểu biết của cá nhân; theo quan điểm bảo hộ tự do thì người ta không thể và không có quyền dựa vào quan điểm mỹ học đó để đưa ra quy chuẩn ép tất cả tuân theo được. Tất cả ở đây bao gồm cả các thế hệ kế tiếp, chứ không đơn thuần là các nhóm khác nhau trong cùng một thời điểm.

Vì thế, tôi coi việc các Viện hàn lâm tự cho mình quyền, thậm chí cả những xã hội dân chủ, có bề dầy văn hóa, tự cho mình quyền quy định quy tắc ngôn ngữ là ảnh hưởng tự do của các thế hệ sau. Các Viện hàn lâm ngôn ngữ ở một số nước dân chủ, văn hóa (Pháp, Đức, vv.) có được sự ủy quyền của cả xã hội dân sự (thông qua các thể chế dân chủ) để đặt ra quy định chặt chẽ về ngữ pháp và ngôn ngữ, trong chừng mực nào đó luôn luôn tạo ra hàng rào đối với các thế hệ tương lai, chí ít là cho đến khi bản thân các thế hệ hậu duệ thu lại quyền định đoạt ngôn ngữ của mình khi họ có đủ đại diện trong những Viện hàn lâm ấy.

Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm chỉ trích sự lạm dụng cấu trúc ngữ pháp ngoại lai trong tiếng Việt, ví dụ như "thể bị động không nên được dùng trong câu văn tiếng Việt", "blog này bị viết bởi một người làm hỏng tiếng Việt", và cả ngôn ngữ teen mà tôi không rõ trích dẫn thế nào. Tôi không đồng tình với những quan điểm này, và hiểu nó dựa trên khung các giao dịch phản cảm mà tôi đã có lần nhắc đến. Cụ thể là những người trung thành với các cấu trúc ngữ pháp, từ ngữ thường thấy trong tiếng Việt cảm thấy "phản cảm", nếu không muốn nói là "ghê tởm" khi có những cấu trúc ngoại lai xuất hiện, cho dù là về mặt ngữ nghĩa và logic thì không có gì không rõ ràng hay khúc mắc cả.

Một số đặc điểm của những cấu trúc mới có thể gây khó khăn trong việc truyền tải thông tin, ví dụ như việc viết cho khó đọc, không viết hoa đầu câu, vv. Song những yếu tố này cũng thuộc vào cả một khung cảnh ngôn ngữ tiến hóa động: cái gì cần và nhiều người thích thì sẽ còn tồn tại, cái gì không có ích lợi, không "được thích" thì chỉ còn là hiện tượng thoảng qua. Yếu tố phảm cảm góp phần "bảo thủ", giữ lại nguyên trạng của những quy chuẩn một thời, và làm chậm lại quá trình tiến hóa.

Cũng không rõ việc làm chậm lại này ảnh hưởng tốt hay xấu đến xã hội. Cái tôi muốn khẳng định ở đây là nó phát sinh từ mâu thuẫn giữa các thế hệ trong xã hội, từ sự va chạm giữa sự tự do của các thế hệ này.

Update: Bài này bên blog của chị Hoàng Yến trình bày một cách nhìn khá thú vị về ngữ pháp. Về cơ bản không có mâu thuẫn gì với cách nhìn của tôi cả.

Friday, May 22, 2009

Paul Krugman ở Việt Nam

Sáng nay tôi có cơ hội dự buổi tọa đàm của Paul Krugman ở Hà Nội. Buổi tọa đàm tương đối ngắn, vì Krugman phải ra sân bay lúc 9:30, và nói chung không có thông tin gì đáng kể. Nội dung chính vẫn là những gì Krugman thường ủng hộ trên blog của mình, và rất ít chuyên sâu về tình hình Việt Nam (vì ông cũng không có thông tin gì mấy về Việt Nam). Tôi nghĩ là từ cuộc nói chuyện này, giới làm chính sách và giới báo chí sẽ trích dẫn được nhiều điều hợp ý mình (mặc dù không đúng ý Krugman), và sẽ thể hiện những luận điểm mạnh mẽ hơn trước nhờ có được sự ủng hộ của một nhà kinh tế có giải Nobel.

Tôi có ghi lại chi tiết tọa đàm trên khoảng 4 trang MS Word. Sau đây là một số điểm tôi chú ý từ cuộc tọa đàm:
- Krugman nhấn mạnh tiềm năng của kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ kinh tế Đông Á, và cho rằng bất cứ việc gì củng cố liên hệ kinh tế với Trung Quốc đều là điều tốt. Người dịch, người nghe, người trích dẫn chắc sẽ liên tưởng ngay đến dự án bauxite ở Tây Nguyên. Tôi cho là Krugman nghĩ đến các chính sách bảo hộ của Mỹ với hàng Trung Quốc.
- Tuy vậy, Krugman cũng nhắc đi nhắc lại rằng Trung Quốc vẫn còn xa mới đuổi kịp Mỹ hay Nhật, và đồng Nhân Dân Tệ cũng còn xa mới vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu 15 năm nữa đồng Euro ngang tầm với đồng USD, nhưng sẽ rất ngạc nhiên nếu đồng NDT vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc trong vòng 20 năm nữa.
- Krugman chú trọng đến vấn đề giáo dục và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, một điều mà tôi ít ngờ đến. Có lẽ đây là cách giải thích chính của ông về sự khác biệt giửa Đông Á và Mỹ Latin (suy đoán của tôi).
- Đối với vấn đề phần lớn kinh tế Việt Nam thuộc về nông nghiệp và nông thôn, Krugman nghĩ rằng về lâu dài với nhu cầu tăng và cung bị giới hạn thì nông nghiệp sẽ có vị trí tốt (VD: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng). Trong ngắn hạn, khi mà kinh tế hồi phục thì giá nông sản cũng sẽ hồi phục. Tôi không đồng ý nhiều với cả hai ý này.

Ngoài ra, hầu hết những gì Krugman nói có thể tìm hiểu được trên blog của ông (dù là nhiều vấn đề cũng phải tìm hiểu rất mất công). Ví dụ như dự đoán về khủng hoảng chạm đáy (chưa chạm đáy, chỉ rơi chậm lại thôi), hồi phục (rất vất vả, từ từ, không biết bao giờ mới phục hồi hết), y tế (bảo hiểm toàn dân, nhà nước đứng ra), gói kích cầu (ở Mỹ và hầu hết các nước kích cầu không đủ - điều này báo chí và giới chính sách sẽ trích ra để ủng hộ gói kích cầu cao hơn nữa của Việt Nam), khủng hoảng tương lai (không sửa điều tiết thì sẽ khủng hoảng sớm trong vòng 10 năm nữa), vv. và vv. Tôi không có cơ hội đặt câu hỏi, vì hạn chế thời gian, vị trí khuất và tính rụt rè. Cũng hơi tiếc, thành ra những câu hỏi của mình lại phải tự nghĩ thêm vậy.

Tạm thời tóm gọn như vậy, mấy hôm tới có nhớ thêm vấn đề gì sẽ chép thêm.

Thursday, May 21, 2009

Đe dọa của loài heo

Đây là nguyên bản của bài viết mới đây của tôi trên Vietnam Financial Review. Ý tưởng dựa theo một số bài viết của VoxEU, ADB, và FAO.


The Pork Peril

The swine influenza outbreak in Mexico is not a good sign for any one. Since the first fatality on April 13, it has claimed more than a hundred lives after just two weeks, and the death toll does not seem to slow down. In a world with a raging financial and economic crisis that has just foreshadowed a lingering food crisis, a health crisis may have the worst ever impacts.

All the financial and economic news have driven the food crisis out of media coverage. While we are no longer at the peak of food prices as back in 2008, the food market is yet to return to normalcy. Recent reports from FAO and the ADB warn that Asia, and thus the whole world, are still not too far from food shortage. Cereal price still remains at a level comparable to the later part of 2007, which is 50% above the decreasing trend of food prices during more than a decade before the recent price surge.

The subsistence need of the poor means that demand for staple in developing countries would not drop much, even when the economy is heavily hit by the current crisis. In fact, the drop in income can shift consumption from other categories to food, thereby increase food consumption in a hard time, a counterintuitive phenomenon that has happened many times in history.

In light of the food shortage concern, the Mexican influenza is potentially fatal, not only because it is a direct health threat, but also because it menaces to bring the world back to a food shortage chaos that no country could deal with in this economic downturn.

If the novel virus continues to spread, food protectionism would quickly take over the current food trade system. Such policy is well justified by health concerns, as restriction of food and human mobility has been proven the best way to prevent the spread of an epidemic before a vaccine is discovered. But it would also plunge the world back to a state of imbalanced food markets. Food prices would increase substantially, especially in poor, traditionally food-importing countries.

Sizeable developing countries such as China, India, Indonesia and Vietnam would face a double disastrous crisis: a contraction of consumption good demand due to the dip in exports, and a contraction of basic food supply. Here, two minuses do not make a plus, as the combined crisis means a drastic blow to the urban poor, the factory workers who suffer from revenue loss and less affordable food. Worse, they would be in contrast with some of their compatriots who could make trade profits out of food price spreads. Deprived of all means, the destitute urbanites would become politically explosive and rebellious. The crisis will escalate.

Even when the swine flu does not become pandemic, the fear of flu itself may already trigger those dire consequences. The dreadful images of the Mexican situation have already prompted many countries to shut their doors on pork imports, reinstitute strict controls on tourists, and prepare to launch radical quarantine campaigns should the malign virus travels to their territory.

It is important to realize the magnitude of this imminent risk, so that appropriate measures could be implemented in time, not only to prevent the spread of the disease but also to assuage the side effects of such prevention. Countries should coordinate on policies facilitating trade and food production in times of need. This is also another reason to include strong temporary subsidy for agricultural products in stimulus packages.

Farmers in Vietnam have had bitter experiences how a chicken disease resulted in human, social and economic tragedies. Let us hope the pig has a brighter destiny.



Source: FAO Food Price Index Data, http://www.fao.org/worldfoodsituation/FoodPricesIndex/en/




Hạ giá đồng Việt Nam - tiếp tục

Tôi bàn tiếp về vấn đề tỷ giá VND - USD. Trong bình luận của bài trước, anh Lê Hồng Giang và Vũ Hoàng Linh có nêu ý kiến về việc hạ giá bất ngờ hay thay đổi biên độ và phương thức kìm giá. Về việc hạ giá như thế nào, tôi đồng ý là hạ giá bất ngờ dễ dẫn đến việc mất lòng tin vào chính sách của NHNN. Tuy vậy, hạ giá dần dần thì sẽ dẫn đến sức ép đầu cơ, dẫn đến sụt giá ngay lập tức. Ngoài việc đầu cơ USD, còn có việc đầu cơ hàng hóa nhập khẩu (nhập khẩu sớm, đợi giá cao mới bán) và xuất khẩu (chào bán sớm lấy USD trước, nợ tiền nhà sản xuất cho đến khi VND hạ xuống). Nếu muốn hạ giá dần dần, thì phải đi kèm với việc kiểm soát ngoại tệ rất gắt gao, bắt buộc công ty xuất nhập khẩu không được giữ ngoại tệ, bắt buộc ngân hàng hạn chế đổi ngoại tệ nhiều nhất có thể. Trong tình cảnh ấy, rất dễ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Không biết ở Việt Nam có thị trường sản phẩm forward/future hay các sản phẩm tài chính phái sinh khác không, nếu có thì cũng phải thắt rất chặt mới đảm bảo ổn định tài chính khi mà NHNN tuyên bố hạ giá dần dần.

Bây giờ nói đến việc giãn biên độ tỷ giá: ở thời điểm này, thị trường VN đủ chín để hiểu rằng đây thực chất là việc hạ giá. Giãn biên độ bao nhiêu phần, thì sẽ được cả thị trường tài chính hiểu rằng tỷ giá hạ xuống bấy nhiêu. Tôi nghĩ đây sẽ là cách làm mà NHNN chọn, vì chí ít nó giữ thể diện cho các tuyên bố cố định tỷ giá trước đây, và kết quả thì sẽ không có gì khác với việc tuyên bố hạ giá thẳng thừng. Còn vấn đề cho phép central rate chuyển dịch được thì ảnh hưởng sẽ khác hẳn. Tôi nghĩ thị trường đủ chín để hiểu rằng đây là việc thả nổi từ từ VND, và sẽ dẫn đến kết quả y hệt như những gì tôi phân tích ở trên về việc tuyên bố hạ giá dần dần.

Thêm một điểm về rủi ro lạm phát và vấn đề NHNN lưỡng lự không muốn hạ/phá giá. NHNN phải suy tính giữa hai rủi ro, một là không hạ giá, và tình hình tiếp tục tồi tệ, dẫn đến GDP suy giảm, so với hai là hạ giá, nhưng tình hình sản xuất lại trở nên tốt hơn, dẫn đến sức ép lạm phát. Tôi dự tính khả năng lạm phát do hạ giá VND hiện giờ là thấp, nhất là trong bối cảnh nhập khẩu đang tiếp tục giảm thì passthrough từ tỷ giá đến mức giá nội địa sẽ tương đối thấp. Tuy vậy, còn có một vấn đề khác có thể đang được NHNN quan tâm: đó là khả năng hạ giá của chính USD. Nếu USD giảm giá trong thời gian tới, thì NHNN sẽ đạt được mục đích của mình mà không tốn một mũi tên hòn đạn nào cả: VND được gắn vào USD nên cũng sẽ hạ giá cùng, nhất là so với các đồng tiền của các đối tác xuất/nhập khẩu như Nhật hay EU. Khả năng USD hạ giá hoàn toàn có thể xảy ra trong nhiều kịch bản khác nhau (VD: Trung Quốc giảm dự trữ, hay là NH TƯ châu Âu bắt đầu tính chuyện tăng lãi suất vì tình hình khả quan lên - Trichet nổi tiếng conservative). Do đó, NHNN còn có lý do để đợi tình hình thế giới.

Càng viết càng thấy tản mạn, thôi để lúc khác xem lại xem có sai sót gì không vậy.

Update: Quên mất, còn câu hỏi hạ giá bao nhiêu thì đủ, để viết sau vậy.

Tuesday, May 19, 2009

Kích cầu ở Việt Nam - hạ giá VND

Thời gian này tôi đang ở Hà Nội, gặp được nhiều quan điểm và hiện tượng hay, mà lại không có thời gian để chép xuống trên blog. (Cộng thêm việc đang nợ bài rất nhiều.) Hôm nay bèn tranh thủ chép lại một cách rất tản mạn, bằng một thứ tiếng Việt tương đối tệ :) :

- Về chính sách kích cầu ở Việt Nam: Trong các bài viết trên Vietnam Financial Review, tôi luôn phát biểu rằng Việt Nam còn chỗ cho chính sách tiền tệ, tức là giảm lãi suất chủ đạo của NHNN. Theo một ý kiến, thì lãi suất ở Việt Nam có lẽ đã chạm sàn rồi. Lý do là cân bằng về lãi suất (interest rate parity) với lãi suất USD, và rủi ro nội tại của việc giữ đồng VND. Để giữ cho VND là một phương tiện lưu trữ, thì lãi suất VND cũng phải bù (có premium) cho rủi ro về lạm phát và rủi ro về khả năng phá giá đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, có lẽ là thị trường đánh giá cả hai rủi ro này tương đối cao. Nhất là trên thị trường tiền gửi tiết kiệm thì các cá nhân hầu hết có thu nhập trung bình và thấp hơn, nên càng muốn tránh rủi ro (so với thị trường vay), vì thế premium có thể cao. Tổng premium có cao đến mức gần 8% không thì tôi không chắc.

Nếu quan điểm này đúng, thì một cách cởi trói cho Ngân hàng Nhà nước chính là chủ động hạ giá VND. Hiện giờ chủ đề này rất nhậy cảm, và tôi nghĩ là đang nằm trên cân của giới làm chính sách cấp cao. Hạ giá VND (chỉ một lần, bất ngờ) có thể kích thích xuất khẩu, có lẽ là cách kích thích mạnh và ít tốn kém bậc nhất, đồng thời cũng giảm sức ép lên dự trữ Quốc gia (hiện giờ black market premium, tức là chênh lệch tỷ giá thị trường tự do với tỷ giá chính thức, tương đối cao). Tuy vậy, trong thời gian trước mắt (có thể là một hai tháng) nó cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu, từ đó có ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh trong nước, trước khi xuất khẩu kịp tăng và bù lại phần hụt này. Hơn nữa, nếu hạ giá không nhiều như thị trường chờ đợi (nhiều khả năng xảy ra với tình hình chính sách hiện nay), thì dễ tạo nên ấn tượng và kỳ vọng tiếp tục hạ giá trong tương lai, dẫn đến sức ép mạnh hơn lên VND, và còn tạo sự bất cân đối hơn nữa (tuy là nó sẽ góp phần tăng hoạt động trong nước trong ngắn hạn).

Như đoạn phía trên đã phân tích, nếu hạ giá (một lần, bất ngờ) góp phần giảm rủi ro phá giá, thì nó còn có tác dụng mở đường cho việc hạ lãi suất, phần nào chính thức hóa chính sách bù lãi suất giúp doanh nghiệp tránh nợ xấu (một cách bail-out) như hiện nay. Tóm gộp lại, ảnh hưởng của việc hạ giá tương đối hỗn tạp, và cần có đầy đủ thông tin và số liệu mới có thể đánh giá cẩn thận hơn được.

Tạm thời thế đã.

Tuesday, May 5, 2009

Môi trường và kinh tế học

Gần đây, Ed Glaeser có nghiên cứu (cùng với Matthew Kahn) về khí thải CO2 trên góc độ kinh tế đô thị (urban economics), và có bình luận trên blog Economix của NY Times. Phân tích về chính sách có thể tóm gọn lại là những nơi như Texas có lượng khí thải CO2 nhiều hơn California rất nhiều, chủ yếu vì ảnh hưởng thời tiết. Tuy vậy, do hoạt động bảo vệ môi trường ở California mạnh hơn nhiều, nên California có quy định quá chặt chẽ về xây dựng, dẫn đến giá đất/nhà cao, và người dân chuyển sang ở Texas.

Đây là một ví dụ điển hình của ảnh hưởng ngoại vi của chính sách, vốn dĩ có thể tốt ở một địa phương, nhưng có ảnh hưởng chung xấu đến toàn bộ. Tương tự, có thể kể đến chính sách bảo hộ thời khủng hoảng có thể tốt cho gói kích cầu của một nước nhưng làm cho khủng hoảng toàn cầu ngày càng tệ hại, hay chính sách cạnh tranh đầu tư (cả công, tư và nước ngoài) giữa các tỉnh ở Việt Nam có thể dẫn đến việc thừa thãi dự án lớn (xây cảng nước sâu, nhà máy xi măng, đường vv.).

Quay lại bài viết của Glaeser trên Economix, hầu hết các phản hồi, mà tôi đoán là của những người yêu môi trường hơn kinh tế học nhiều, đều phản đối gay gắt cách nhìn của Glaeser chỉ chú trọng vào CO2 mà không coi trọng đến các yếu tố khác. Một số comment khác nêu ra nguyên tắc "hành động ở địa phương" (act locally) như là một tiêu chí của hoạt động môi trường.

Tôi nghĩ các phản hồi này đều coi nhẹ câu chuyện cần đánh giá chính sách một cách tổng thể. Glaeser đúng là tập trung nhiều vào CO2, nhưng đây là vấn đề ảnh hưởng toàn cầu, và các nước nghèo thì sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn rất nhiều so với các nước giầu. Những nhà hoạt động xã hội Mỹ có thể rất hảo tâm từ thiện với người nghèo ở các nước nghèo, song cùng lúc đó lại ủng hộ những chính sách chết người với họ (như bảo hộ thương mại). Đúng là người California có quyền đòi hỏi cao cho cá nhân họ, song với những nhà hoạt động môi trường dưới danh nghĩa "cứu Trái đất" thì ít nhất cũng nên có cách nhìn rộng hơn về "Trái đất". Glaeser đúng khi không trách yêu sách của người dân California, mà trách cách nhìn thiển cận của các nhóm hoạt động vì môi trường. Nhất là những hoạt động nhằm đúng vào việc giảm CO2 ở California: tác động đối với môi trường hoàn toàn trái ngược với những tiêu chí họ đặt ra. Về vấn đề CO2, không thể có giải pháp "hành động ở địa phương" được. Dứt khoát là không.

Cũng cần chú ý là Việt Nam là một trong những nước sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của sự tăng mực nước biển. Theo một nghiên cứu của Dasgupta và cộng sự ở Ngân hàng Thế giới, nước biển tăng 1m thôi sẽ làm ngập đến 11% dân số của Việt Nam tính theo thời điểm hiện tại, là tỷ lệ cao nhất thế giới; còn nước biển tăng 5m thì ảnh hưởng lên đến 35% dân số. Người Việt do đó có đủ lý do để quan tâm đặc biệt đến vấn đề hiệu ứng nhà kính và khí thải CO2 toàn cầu. Hình minh họa dưới đây (lấy từ nghiên cứu của Dasgupta và cộng sự) cho thấy bản đồ Việt Nam bị ảnh hưởng thế nào theo các kịch bản mực nước biển tăng cao từ 1m đến 5m.

Có lẽ là cần viết thêm về ảnh hưởng của tăng mực nước biển đến Việt Nam, chắc là vào một lần khác (tôi hứa hẹn kiểu này trên blog nhiều quá rồi :) ).