Saturday, May 23, 2009

Ngữ pháp: quy chuẩn và tự do

Bài này viết về một quan điểm về ngữ pháp mà tôi đồng tình. Nói tóm gọn, quan điểm của tôi là bản thân ngôn ngữ và các quy tắc của ngôn ngữ (bao gồm ngữ pháp, nội dung ý nghĩa từ ngữ vv.) có mục đích cơ bản, quan trọng nhất là truyền tải thông tin để tạo kênh thông hiểu giữa các cá nhân: communicate to coordinate & cooperate. Tôi không tin vào giá trị mỹ học nội tại hay thuần túy trong ngôn ngữ. Một nhóm người có thể thấy ngôn ngữ của một đoạn văn, đoạn thơ đặc biệt hay hay đẹp, song theo tôi đó là cảm giác cá nhân, xây dựng trên nền tảng giáo dục và kinh nghiệm hiểu biết của cá nhân; theo quan điểm bảo hộ tự do thì người ta không thể và không có quyền dựa vào quan điểm mỹ học đó để đưa ra quy chuẩn ép tất cả tuân theo được. Tất cả ở đây bao gồm cả các thế hệ kế tiếp, chứ không đơn thuần là các nhóm khác nhau trong cùng một thời điểm.

Vì thế, tôi coi việc các Viện hàn lâm tự cho mình quyền, thậm chí cả những xã hội dân chủ, có bề dầy văn hóa, tự cho mình quyền quy định quy tắc ngôn ngữ là ảnh hưởng tự do của các thế hệ sau. Các Viện hàn lâm ngôn ngữ ở một số nước dân chủ, văn hóa (Pháp, Đức, vv.) có được sự ủy quyền của cả xã hội dân sự (thông qua các thể chế dân chủ) để đặt ra quy định chặt chẽ về ngữ pháp và ngôn ngữ, trong chừng mực nào đó luôn luôn tạo ra hàng rào đối với các thế hệ tương lai, chí ít là cho đến khi bản thân các thế hệ hậu duệ thu lại quyền định đoạt ngôn ngữ của mình khi họ có đủ đại diện trong những Viện hàn lâm ấy.

Ở Việt Nam, có rất nhiều quan điểm chỉ trích sự lạm dụng cấu trúc ngữ pháp ngoại lai trong tiếng Việt, ví dụ như "thể bị động không nên được dùng trong câu văn tiếng Việt", "blog này bị viết bởi một người làm hỏng tiếng Việt", và cả ngôn ngữ teen mà tôi không rõ trích dẫn thế nào. Tôi không đồng tình với những quan điểm này, và hiểu nó dựa trên khung các giao dịch phản cảm mà tôi đã có lần nhắc đến. Cụ thể là những người trung thành với các cấu trúc ngữ pháp, từ ngữ thường thấy trong tiếng Việt cảm thấy "phản cảm", nếu không muốn nói là "ghê tởm" khi có những cấu trúc ngoại lai xuất hiện, cho dù là về mặt ngữ nghĩa và logic thì không có gì không rõ ràng hay khúc mắc cả.

Một số đặc điểm của những cấu trúc mới có thể gây khó khăn trong việc truyền tải thông tin, ví dụ như việc viết cho khó đọc, không viết hoa đầu câu, vv. Song những yếu tố này cũng thuộc vào cả một khung cảnh ngôn ngữ tiến hóa động: cái gì cần và nhiều người thích thì sẽ còn tồn tại, cái gì không có ích lợi, không "được thích" thì chỉ còn là hiện tượng thoảng qua. Yếu tố phảm cảm góp phần "bảo thủ", giữ lại nguyên trạng của những quy chuẩn một thời, và làm chậm lại quá trình tiến hóa.

Cũng không rõ việc làm chậm lại này ảnh hưởng tốt hay xấu đến xã hội. Cái tôi muốn khẳng định ở đây là nó phát sinh từ mâu thuẫn giữa các thế hệ trong xã hội, từ sự va chạm giữa sự tự do của các thế hệ này.

Update: Bài này bên blog của chị Hoàng Yến trình bày một cách nhìn khá thú vị về ngữ pháp. Về cơ bản không có mâu thuẫn gì với cách nhìn của tôi cả.

Friday, May 22, 2009

Paul Krugman ở Việt Nam

Sáng nay tôi có cơ hội dự buổi tọa đàm của Paul Krugman ở Hà Nội. Buổi tọa đàm tương đối ngắn, vì Krugman phải ra sân bay lúc 9:30, và nói chung không có thông tin gì đáng kể. Nội dung chính vẫn là những gì Krugman thường ủng hộ trên blog của mình, và rất ít chuyên sâu về tình hình Việt Nam (vì ông cũng không có thông tin gì mấy về Việt Nam). Tôi nghĩ là từ cuộc nói chuyện này, giới làm chính sách và giới báo chí sẽ trích dẫn được nhiều điều hợp ý mình (mặc dù không đúng ý Krugman), và sẽ thể hiện những luận điểm mạnh mẽ hơn trước nhờ có được sự ủng hộ của một nhà kinh tế có giải Nobel.

Tôi có ghi lại chi tiết tọa đàm trên khoảng 4 trang MS Word. Sau đây là một số điểm tôi chú ý từ cuộc tọa đàm:
- Krugman nhấn mạnh tiềm năng của kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ kinh tế Đông Á, và cho rằng bất cứ việc gì củng cố liên hệ kinh tế với Trung Quốc đều là điều tốt. Người dịch, người nghe, người trích dẫn chắc sẽ liên tưởng ngay đến dự án bauxite ở Tây Nguyên. Tôi cho là Krugman nghĩ đến các chính sách bảo hộ của Mỹ với hàng Trung Quốc.
- Tuy vậy, Krugman cũng nhắc đi nhắc lại rằng Trung Quốc vẫn còn xa mới đuổi kịp Mỹ hay Nhật, và đồng Nhân Dân Tệ cũng còn xa mới vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu 15 năm nữa đồng Euro ngang tầm với đồng USD, nhưng sẽ rất ngạc nhiên nếu đồng NDT vượt ra ngoài biên giới Trung Quốc trong vòng 20 năm nữa.
- Krugman chú trọng đến vấn đề giáo dục và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, một điều mà tôi ít ngờ đến. Có lẽ đây là cách giải thích chính của ông về sự khác biệt giửa Đông Á và Mỹ Latin (suy đoán của tôi).
- Đối với vấn đề phần lớn kinh tế Việt Nam thuộc về nông nghiệp và nông thôn, Krugman nghĩ rằng về lâu dài với nhu cầu tăng và cung bị giới hạn thì nông nghiệp sẽ có vị trí tốt (VD: sản xuất 1kcal thịt cần 7kcal lương thực, vì vậy nhu cầu lương thực lâu dài sẽ tăng). Trong ngắn hạn, khi mà kinh tế hồi phục thì giá nông sản cũng sẽ hồi phục. Tôi không đồng ý nhiều với cả hai ý này.

Ngoài ra, hầu hết những gì Krugman nói có thể tìm hiểu được trên blog của ông (dù là nhiều vấn đề cũng phải tìm hiểu rất mất công). Ví dụ như dự đoán về khủng hoảng chạm đáy (chưa chạm đáy, chỉ rơi chậm lại thôi), hồi phục (rất vất vả, từ từ, không biết bao giờ mới phục hồi hết), y tế (bảo hiểm toàn dân, nhà nước đứng ra), gói kích cầu (ở Mỹ và hầu hết các nước kích cầu không đủ - điều này báo chí và giới chính sách sẽ trích ra để ủng hộ gói kích cầu cao hơn nữa của Việt Nam), khủng hoảng tương lai (không sửa điều tiết thì sẽ khủng hoảng sớm trong vòng 10 năm nữa), vv. và vv. Tôi không có cơ hội đặt câu hỏi, vì hạn chế thời gian, vị trí khuất và tính rụt rè. Cũng hơi tiếc, thành ra những câu hỏi của mình lại phải tự nghĩ thêm vậy.

Tạm thời tóm gọn như vậy, mấy hôm tới có nhớ thêm vấn đề gì sẽ chép thêm.

Thursday, May 21, 2009

Đe dọa của loài heo

Đây là nguyên bản của bài viết mới đây của tôi trên Vietnam Financial Review. Ý tưởng dựa theo một số bài viết của VoxEU, ADB, và FAO.


The Pork Peril

The swine influenza outbreak in Mexico is not a good sign for any one. Since the first fatality on April 13, it has claimed more than a hundred lives after just two weeks, and the death toll does not seem to slow down. In a world with a raging financial and economic crisis that has just foreshadowed a lingering food crisis, a health crisis may have the worst ever impacts.

All the financial and economic news have driven the food crisis out of media coverage. While we are no longer at the peak of food prices as back in 2008, the food market is yet to return to normalcy. Recent reports from FAO and the ADB warn that Asia, and thus the whole world, are still not too far from food shortage. Cereal price still remains at a level comparable to the later part of 2007, which is 50% above the decreasing trend of food prices during more than a decade before the recent price surge.

The subsistence need of the poor means that demand for staple in developing countries would not drop much, even when the economy is heavily hit by the current crisis. In fact, the drop in income can shift consumption from other categories to food, thereby increase food consumption in a hard time, a counterintuitive phenomenon that has happened many times in history.

In light of the food shortage concern, the Mexican influenza is potentially fatal, not only because it is a direct health threat, but also because it menaces to bring the world back to a food shortage chaos that no country could deal with in this economic downturn.

If the novel virus continues to spread, food protectionism would quickly take over the current food trade system. Such policy is well justified by health concerns, as restriction of food and human mobility has been proven the best way to prevent the spread of an epidemic before a vaccine is discovered. But it would also plunge the world back to a state of imbalanced food markets. Food prices would increase substantially, especially in poor, traditionally food-importing countries.

Sizeable developing countries such as China, India, Indonesia and Vietnam would face a double disastrous crisis: a contraction of consumption good demand due to the dip in exports, and a contraction of basic food supply. Here, two minuses do not make a plus, as the combined crisis means a drastic blow to the urban poor, the factory workers who suffer from revenue loss and less affordable food. Worse, they would be in contrast with some of their compatriots who could make trade profits out of food price spreads. Deprived of all means, the destitute urbanites would become politically explosive and rebellious. The crisis will escalate.

Even when the swine flu does not become pandemic, the fear of flu itself may already trigger those dire consequences. The dreadful images of the Mexican situation have already prompted many countries to shut their doors on pork imports, reinstitute strict controls on tourists, and prepare to launch radical quarantine campaigns should the malign virus travels to their territory.

It is important to realize the magnitude of this imminent risk, so that appropriate measures could be implemented in time, not only to prevent the spread of the disease but also to assuage the side effects of such prevention. Countries should coordinate on policies facilitating trade and food production in times of need. This is also another reason to include strong temporary subsidy for agricultural products in stimulus packages.

Farmers in Vietnam have had bitter experiences how a chicken disease resulted in human, social and economic tragedies. Let us hope the pig has a brighter destiny.



Source: FAO Food Price Index Data, http://www.fao.org/worldfoodsituation/FoodPricesIndex/en/




Hạ giá đồng Việt Nam - tiếp tục

Tôi bàn tiếp về vấn đề tỷ giá VND - USD. Trong bình luận của bài trước, anh Lê Hồng Giang và Vũ Hoàng Linh có nêu ý kiến về việc hạ giá bất ngờ hay thay đổi biên độ và phương thức kìm giá. Về việc hạ giá như thế nào, tôi đồng ý là hạ giá bất ngờ dễ dẫn đến việc mất lòng tin vào chính sách của NHNN. Tuy vậy, hạ giá dần dần thì sẽ dẫn đến sức ép đầu cơ, dẫn đến sụt giá ngay lập tức. Ngoài việc đầu cơ USD, còn có việc đầu cơ hàng hóa nhập khẩu (nhập khẩu sớm, đợi giá cao mới bán) và xuất khẩu (chào bán sớm lấy USD trước, nợ tiền nhà sản xuất cho đến khi VND hạ xuống). Nếu muốn hạ giá dần dần, thì phải đi kèm với việc kiểm soát ngoại tệ rất gắt gao, bắt buộc công ty xuất nhập khẩu không được giữ ngoại tệ, bắt buộc ngân hàng hạn chế đổi ngoại tệ nhiều nhất có thể. Trong tình cảnh ấy, rất dễ ảnh hưởng mạnh đến hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu. Không biết ở Việt Nam có thị trường sản phẩm forward/future hay các sản phẩm tài chính phái sinh khác không, nếu có thì cũng phải thắt rất chặt mới đảm bảo ổn định tài chính khi mà NHNN tuyên bố hạ giá dần dần.

Bây giờ nói đến việc giãn biên độ tỷ giá: ở thời điểm này, thị trường VN đủ chín để hiểu rằng đây thực chất là việc hạ giá. Giãn biên độ bao nhiêu phần, thì sẽ được cả thị trường tài chính hiểu rằng tỷ giá hạ xuống bấy nhiêu. Tôi nghĩ đây sẽ là cách làm mà NHNN chọn, vì chí ít nó giữ thể diện cho các tuyên bố cố định tỷ giá trước đây, và kết quả thì sẽ không có gì khác với việc tuyên bố hạ giá thẳng thừng. Còn vấn đề cho phép central rate chuyển dịch được thì ảnh hưởng sẽ khác hẳn. Tôi nghĩ thị trường đủ chín để hiểu rằng đây là việc thả nổi từ từ VND, và sẽ dẫn đến kết quả y hệt như những gì tôi phân tích ở trên về việc tuyên bố hạ giá dần dần.

Thêm một điểm về rủi ro lạm phát và vấn đề NHNN lưỡng lự không muốn hạ/phá giá. NHNN phải suy tính giữa hai rủi ro, một là không hạ giá, và tình hình tiếp tục tồi tệ, dẫn đến GDP suy giảm, so với hai là hạ giá, nhưng tình hình sản xuất lại trở nên tốt hơn, dẫn đến sức ép lạm phát. Tôi dự tính khả năng lạm phát do hạ giá VND hiện giờ là thấp, nhất là trong bối cảnh nhập khẩu đang tiếp tục giảm thì passthrough từ tỷ giá đến mức giá nội địa sẽ tương đối thấp. Tuy vậy, còn có một vấn đề khác có thể đang được NHNN quan tâm: đó là khả năng hạ giá của chính USD. Nếu USD giảm giá trong thời gian tới, thì NHNN sẽ đạt được mục đích của mình mà không tốn một mũi tên hòn đạn nào cả: VND được gắn vào USD nên cũng sẽ hạ giá cùng, nhất là so với các đồng tiền của các đối tác xuất/nhập khẩu như Nhật hay EU. Khả năng USD hạ giá hoàn toàn có thể xảy ra trong nhiều kịch bản khác nhau (VD: Trung Quốc giảm dự trữ, hay là NH TƯ châu Âu bắt đầu tính chuyện tăng lãi suất vì tình hình khả quan lên - Trichet nổi tiếng conservative). Do đó, NHNN còn có lý do để đợi tình hình thế giới.

Càng viết càng thấy tản mạn, thôi để lúc khác xem lại xem có sai sót gì không vậy.

Update: Quên mất, còn câu hỏi hạ giá bao nhiêu thì đủ, để viết sau vậy.

Tuesday, May 19, 2009

Kích cầu ở Việt Nam - hạ giá VND

Thời gian này tôi đang ở Hà Nội, gặp được nhiều quan điểm và hiện tượng hay, mà lại không có thời gian để chép xuống trên blog. (Cộng thêm việc đang nợ bài rất nhiều.) Hôm nay bèn tranh thủ chép lại một cách rất tản mạn, bằng một thứ tiếng Việt tương đối tệ :) :

- Về chính sách kích cầu ở Việt Nam: Trong các bài viết trên Vietnam Financial Review, tôi luôn phát biểu rằng Việt Nam còn chỗ cho chính sách tiền tệ, tức là giảm lãi suất chủ đạo của NHNN. Theo một ý kiến, thì lãi suất ở Việt Nam có lẽ đã chạm sàn rồi. Lý do là cân bằng về lãi suất (interest rate parity) với lãi suất USD, và rủi ro nội tại của việc giữ đồng VND. Để giữ cho VND là một phương tiện lưu trữ, thì lãi suất VND cũng phải bù (có premium) cho rủi ro về lạm phát và rủi ro về khả năng phá giá đồng tiền. Ở thời điểm hiện nay, có lẽ là thị trường đánh giá cả hai rủi ro này tương đối cao. Nhất là trên thị trường tiền gửi tiết kiệm thì các cá nhân hầu hết có thu nhập trung bình và thấp hơn, nên càng muốn tránh rủi ro (so với thị trường vay), vì thế premium có thể cao. Tổng premium có cao đến mức gần 8% không thì tôi không chắc.

Nếu quan điểm này đúng, thì một cách cởi trói cho Ngân hàng Nhà nước chính là chủ động hạ giá VND. Hiện giờ chủ đề này rất nhậy cảm, và tôi nghĩ là đang nằm trên cân của giới làm chính sách cấp cao. Hạ giá VND (chỉ một lần, bất ngờ) có thể kích thích xuất khẩu, có lẽ là cách kích thích mạnh và ít tốn kém bậc nhất, đồng thời cũng giảm sức ép lên dự trữ Quốc gia (hiện giờ black market premium, tức là chênh lệch tỷ giá thị trường tự do với tỷ giá chính thức, tương đối cao). Tuy vậy, trong thời gian trước mắt (có thể là một hai tháng) nó cũng có thể có ảnh hưởng xấu đến nhập khẩu, từ đó có ảnh hưởng đến sản xuất và kinh doanh trong nước, trước khi xuất khẩu kịp tăng và bù lại phần hụt này. Hơn nữa, nếu hạ giá không nhiều như thị trường chờ đợi (nhiều khả năng xảy ra với tình hình chính sách hiện nay), thì dễ tạo nên ấn tượng và kỳ vọng tiếp tục hạ giá trong tương lai, dẫn đến sức ép mạnh hơn lên VND, và còn tạo sự bất cân đối hơn nữa (tuy là nó sẽ góp phần tăng hoạt động trong nước trong ngắn hạn).

Như đoạn phía trên đã phân tích, nếu hạ giá (một lần, bất ngờ) góp phần giảm rủi ro phá giá, thì nó còn có tác dụng mở đường cho việc hạ lãi suất, phần nào chính thức hóa chính sách bù lãi suất giúp doanh nghiệp tránh nợ xấu (một cách bail-out) như hiện nay. Tóm gộp lại, ảnh hưởng của việc hạ giá tương đối hỗn tạp, và cần có đầy đủ thông tin và số liệu mới có thể đánh giá cẩn thận hơn được.

Tạm thời thế đã.

Tuesday, May 5, 2009

Môi trường và kinh tế học

Gần đây, Ed Glaeser có nghiên cứu (cùng với Matthew Kahn) về khí thải CO2 trên góc độ kinh tế đô thị (urban economics), và có bình luận trên blog Economix của NY Times. Phân tích về chính sách có thể tóm gọn lại là những nơi như Texas có lượng khí thải CO2 nhiều hơn California rất nhiều, chủ yếu vì ảnh hưởng thời tiết. Tuy vậy, do hoạt động bảo vệ môi trường ở California mạnh hơn nhiều, nên California có quy định quá chặt chẽ về xây dựng, dẫn đến giá đất/nhà cao, và người dân chuyển sang ở Texas.

Đây là một ví dụ điển hình của ảnh hưởng ngoại vi của chính sách, vốn dĩ có thể tốt ở một địa phương, nhưng có ảnh hưởng chung xấu đến toàn bộ. Tương tự, có thể kể đến chính sách bảo hộ thời khủng hoảng có thể tốt cho gói kích cầu của một nước nhưng làm cho khủng hoảng toàn cầu ngày càng tệ hại, hay chính sách cạnh tranh đầu tư (cả công, tư và nước ngoài) giữa các tỉnh ở Việt Nam có thể dẫn đến việc thừa thãi dự án lớn (xây cảng nước sâu, nhà máy xi măng, đường vv.).

Quay lại bài viết của Glaeser trên Economix, hầu hết các phản hồi, mà tôi đoán là của những người yêu môi trường hơn kinh tế học nhiều, đều phản đối gay gắt cách nhìn của Glaeser chỉ chú trọng vào CO2 mà không coi trọng đến các yếu tố khác. Một số comment khác nêu ra nguyên tắc "hành động ở địa phương" (act locally) như là một tiêu chí của hoạt động môi trường.

Tôi nghĩ các phản hồi này đều coi nhẹ câu chuyện cần đánh giá chính sách một cách tổng thể. Glaeser đúng là tập trung nhiều vào CO2, nhưng đây là vấn đề ảnh hưởng toàn cầu, và các nước nghèo thì sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn rất nhiều so với các nước giầu. Những nhà hoạt động xã hội Mỹ có thể rất hảo tâm từ thiện với người nghèo ở các nước nghèo, song cùng lúc đó lại ủng hộ những chính sách chết người với họ (như bảo hộ thương mại). Đúng là người California có quyền đòi hỏi cao cho cá nhân họ, song với những nhà hoạt động môi trường dưới danh nghĩa "cứu Trái đất" thì ít nhất cũng nên có cách nhìn rộng hơn về "Trái đất". Glaeser đúng khi không trách yêu sách của người dân California, mà trách cách nhìn thiển cận của các nhóm hoạt động vì môi trường. Nhất là những hoạt động nhằm đúng vào việc giảm CO2 ở California: tác động đối với môi trường hoàn toàn trái ngược với những tiêu chí họ đặt ra. Về vấn đề CO2, không thể có giải pháp "hành động ở địa phương" được. Dứt khoát là không.

Cũng cần chú ý là Việt Nam là một trong những nước sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của sự tăng mực nước biển. Theo một nghiên cứu của Dasgupta và cộng sự ở Ngân hàng Thế giới, nước biển tăng 1m thôi sẽ làm ngập đến 11% dân số của Việt Nam tính theo thời điểm hiện tại, là tỷ lệ cao nhất thế giới; còn nước biển tăng 5m thì ảnh hưởng lên đến 35% dân số. Người Việt do đó có đủ lý do để quan tâm đặc biệt đến vấn đề hiệu ứng nhà kính và khí thải CO2 toàn cầu. Hình minh họa dưới đây (lấy từ nghiên cứu của Dasgupta và cộng sự) cho thấy bản đồ Việt Nam bị ảnh hưởng thế nào theo các kịch bản mực nước biển tăng cao từ 1m đến 5m.

Có lẽ là cần viết thêm về ảnh hưởng của tăng mực nước biển đến Việt Nam, chắc là vào một lần khác (tôi hứa hẹn kiểu này trên blog nhiều quá rồi :) ).

Saturday, April 25, 2009

Emmanuel Saez được John Bates Clark medal.

Emmanuel Saez, nhà kinh tế người Pháp ở Đại học UC Berkeley, mới được nhận John Bates Clark medal năm nay. Huy chương J. B. Clark được trao 2 năm 1 lần cho 1 nhà kinh tế ở Mỹ (không cần phải là người Mỹ) dưới 40 tuổi có thành tích nghiên cứu nổi bật. Lịch sử cho thấy rất nhiều người được huy chương Clark sau này sẽ được giải Nobel cho kinh tế.

Tôi hơi ngạc nhiên với người được giải, một phần vì tôi ít quan tâm đến các vấn đề cách đánh thuế tối ưu (optimal taxation), một chủ đề quan trọng mà Saez có cống hiến đáng kể. Tôi biết đến Saez nhiều hơn qua nhánh nghiên cứu về xác định phân bốthu nhập dựa vào thông tin thuế, mà điển hình là nghiên cứu với Thomas Piketty về phân bố thu nhập ở Mỹ trong suốt thế kỷ 20. Nghiên cứu này đăng trên QJE (trong hướng này, Saez có một vài bài khác trên QJE, AER vv.), nhưng tôi không quá ấn tượng về phương pháp. Có lẽ sẽ phải đọc lại một lúc khác.

Wednesday, April 22, 2009

Quyền sở hữu và tiềm năng phát triển

Bài viết này của Tim Besley và Maitreesh Ghatak (hai giáo sư có tiếng ở London School of Economics) trên VoxEU nói đến tầm quan trọng của quyền sở hữu trong vấn đề phát triển, và chỉ ra bốn kênh ảnh hưởng chính, tôi trích lại nguyên bản dưới đây:
  • The first is expropriation risk – insecure property rights imply that individuals may fail to realise the fruits of their investment and efforts.
  • Second, insecure property rights lead to costs that individuals have to incur to defend their property, which, from the economic point of view, is unproductive.
  • The third is failure to facilitate gains from trade – a productive economy requires that assets be used by those who can do so most productively, and improvements in property rights facilitate this. In other words, they enable an asset's mobility as a factor of production (e.g., via a rental market).
  • The fourth is the use of property in supporting other transactions. Modern market economies rely on collateral to support a variety of financial market transactions, and improving property rights may increase productivity by enhancing such possibilities.
Nhìn chung có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho cả bốn kênh này. Vấn đề là tôi nhớ lại nghiên cứu của anh Đỗ Quý Toàn và chị Lakshmi Iyer trên báo Economic Development and Cultural Change, có thể đọc bài nghiên cứu tương tự ở đây. Đỗ và Iyer nghiên cứu ảnh hưởng của luật Đất đai mới và Chứng chỉ sử dụng đất dài hạn ở nông thôn Việt Nam bằng diff-in-diff, và tìm thấy ảnh hưởng tốt của dự luật này trên phương diện đầu tư và chấp nhận rủi ro của người nông dân. Điều tôi nhớ nhất, là những ảnh hưởng này không lớn, và các tác giả không thấy ảnh hưởng nào về khả năng vay vốn, cầm cố đất của nông dân cả. Có một số cách giải thích cho hiện tượng này. Có thể thị trường tài chính, nhất là ở nông thôn, quá kém phát triển, đến mức ảnh hưởng của quyền sở hữu mới hầu như không có. Cũng có một cách giải thích khác, rằng ngay trước đó quyền sở hữu "hờ" (kiểu informal institution) cũng đã đủ, và quyền sở hữu chính thức không đem lại gì nhiều. Nhìn chung, vấn đề quyền sở hữu/sử dụng đất ở Việt Nam, cũng như rất nhiều vấn đề khác, vẫn còn rất nhiều điều có thể cải tổ.

Tuesday, April 14, 2009

Thái Lan, đỏ và vàng

The Economist theo dõi và viết bài tương đối tốt về tình hình Thái Lan, ví dụ như bài trong số mới đây. Như một lần đã từng bình luận, tôi nghĩ vấn đề cơ bản hiện giờ là Vua Bhumibol và thiên hướng chính trị của vị vua vốn đứng trên pháp luật này. Giải pháp ổn định nhất hiện giờ là chính phủ bảo hoàng thực hiện chính sách dân túy của Thaksin, và bảo đảm một nền dân chủ đại diện. Nếu không, có lẽ kết quả là bạo loạn liên miên, hoặc là cách mạng toàn diện.

Monday, April 13, 2009

Cướp biển: dân chủ hay độc tài

Peter Leeson có bài viết trên National Public Radio (trích lại trên blog của Mankiw) ca ngợi hệ thống xã hội cướp biển vùng Caribbean rất tiến bộ, và gần giống như một xã hội dân chủ vi hiến (constitutional democracy), trong đó lãnh đạo được bầu theo phổ thông đầu phiếu, không phân biệt sắc tộc về quyền lợi kinh tế cũng như chính trị, có hệ thống bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, vv. Người đọc ngạc nhiên phần nào khi biết rằng xã hội của cướp biển tiến bộ nhanh hơn hầu hết các xã hội tiên tiến phương Tây thời bấy giờ.

Tuy vậy, cũng nên lưu ý rằng những xã hội "dân chủ" như vậy thường rất dễ tổ chức, nếu như có một tầng lớp chịu "bóc lột". Ví dụ điển hình là dân chủ kiểu Hy Lạp cổ đại, cộng với việc bóc lột nô lệ. Có nhiều ví dụ khác nữa. Không phải là cứ có tầng lớp bị bóc lột, thì giữa những kẻ đi bóc lột sẽ có tổ chức dân chủ. Nhưng nếu không có tầng lớp bị bóc lột, khi mà câu chuyện không chỉ là việc chia sẻ phần thưởng kiếm được dễ dàng, mà là chuyện cả xã hội cùng phải đóng góp cho những mục đích chung, tạo dựng những dịch vụ, sản phẩm, hình ảnh chung, thì lúc đó thể chế dân chủ mới thực sự gặp thách thức.

Vì thế, câu chuyện về cướp biển cũng không đến mức đáng ngạc nhiên như vậy.

Update: Có người bạn khuyên dịch chữ constitutional democracy là "dân chủ hợp hiến". Tuy ngh cũng hợp lý và không lẫn với "vi hiến" là vi phạm hiến pháp, song tôi vẫn thích chữ "vi hiến" theo nghĩa "vì hiến pháp" hơn. Nhưng chắc là trong tương lai sẽ phải dùng chữ "hợp hiến" thôi.

Update: Tôi đồng ý với ý thứ hai của bác Hải Vân, còn ý đầu và ý cuối thì tôi nghĩ hơi khác.

Khi tôi nói đến "dân chủ vi hiến", thì cũng có hàm nghĩa là nền dân chủ này tôn trọng quyền lợi của cá nhân và của thiểu số rồi. Trong bài của Peter Leeson cũng nhắc đến rất nhiều những yếu tố đó, ví dụ như công bằng về thu nhập, đãi ngộ, bảo hiểm, quyền lợi vv. Tôi không rõ là so sánh với các bộ lạc là các bộ lạc nào, được tổ chức như thế nào. "Các bộ lạc" bao trùm rất rất nhiều hình thức tổ chức xã hội khác nhau - cũng là một ví dụ về ý "xã hội nhỏ thì càng đa dạng".

Về ý cuối, có thể đọc thêm ví dụ trong cuốn The Size of Nations của Alesina (thầy tôi) và Spolaore, trong đó có thống kê hệ thống chứ không phải chỉ điểm một vài ví dụ. Bản thân ví dụ của bác Hải Vân cũng không đi ngược lại quan điểm tôi nêu ra. Trong lịch sử cận-hiện đại, nước Pháp mở rộng lãnh thổ mạnh nhất, dễ dàng nhất chính là thời kỳ phi dân chủ nhất. Cần phải phân biệt ở đây việc mở rộng lãnh thổ thực thụ, so với việc mở thuộc địa chỉ để bóc lột tài nguyên (Napoleon III chiếm Nice-Savoy so với 6 tỉnh Nam Kỳ). Đi vào chi tiết từng ví dụ thì cũng có rất, rất nhiều điều phải bàn, song xu hướng chung là như vậy.

Update: Có anh bạn dịch là "dân chủ vị hiến", có lẽ là hợp lý nhất.

Saturday, April 11, 2009

Giá trị ngành tài chính

Paul Krugman mới viết bài trên New York Times dựa trên nghiên cứu của Philippon và Reshef, được Dr. Trần trên blog Minh Biện dịch lại, tựa đề "Hãy làm ngân hàng tẻ nhạt". Từ khi bắt đầu khủng hoảng, Krugman cho rằng ngành tài chính phần lớn tạo ra giá trị ảo, và tất cả đã "nổ bong bóng". Tôi không hoàn toàn đồng ý vậy, thậm chí nghĩ là quan điểm này của Krugman có phần hơi trái ngược với đánh giá của ông rằng nền kinh tế đang ở trong trạng thái thiếu cầu, và cần nhất là chính sách kích cầu.

Tôi vẫn tin rằng ngành tài chính có đóng góp rất lớn cho tăng trưởng, đặc biệt là hệ thống tài chính ở các nước nghèo ảnh hưởng sống còn đến khả năng tăng trưởng và bắt kịp các nước giầu. Philippe Aghion (thầy tôi), Peter Howitt và David Mayer-Foulkès nghiên cứu và chỉ ra rằng mức độ phát triển tài chính là chìa khóa giúp các nước nghèo bắt kịp trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến hàng đầu; hay chính xác hơn là nếu không có hệ thống tài chính đủ mạnh, thì nước nghèo mãi mãi không đuổi kịp được các nước giầu (khi mà tăng trưởng là nội sinh). Khái niệm mức độ phát triển tài chính được Ross Levine phát triển cùng nhiều cộng sự, và được xem là có ảnh hưởng rất sâu và rộng đến nhiều vấn đề phát triển, chứ không phải chỉ có tăng trưởng.

Có thể phản biện lại rằng việc đẩy mạnh ngành tài chính chỉ có ích với các nước đang phát triển, trong khi ở các nước phát triển thì nó dễ mang lại rủi ro khủng hoảng. Nhưng ở các nước phát triển, ngành tài chính đóng góp công lớn trong việc huy động vốn ủng hộ những dự án cần đầu tư nhiều, lợi nhuận cao dù có tính rủi ro cao: ví dụ như nghiên cứu và phát triển thuốc, công nghệ thông tin, và các công nghệ tiên phong khác. Đấy chính là động lực tối ưu tạo tăng trưởng bền vững ở các nước giầu, khi mà họ không thể dựa vào lao động cật lực hay tiết kiệm chắt chiu (như các con rồng, con hổ Đông Nam Á), và cũng không thể dựa vào việc bắt chước lại công nghệ đỉnh cao (vì chính họ đã nằm trên đỉnh cao rồi).

Nhìn trên quan điểm tài chính phục vụ tăng trưởng, thì giá trị ngành này mang lại cũng phụ thuộc vào viễn cảnh tăng trưởng. Hiện giờ viễn cảnh tăng trưởng ảm đạm, nên ngành tài chính không tạo ra được gì mấy, do đó sự sụp đổ là điểm nổi bật trong bức tranh toàn ngành. Nếu như đây thực sự là khả năng cân bằng duy nhất trong hiện tại và tương lai, thì chúng ta phải công nhận là ngành tài chính trong thời gian cao trào chỉ tạo ra bong bóng, và hiện nay không có cách giải quyết khủng hoảng nào khác ngoài việc nhặt cỏ dại, cho phá sản hàng loạt để làm sạch cả nền kinh tế. Ít người tin vào điều này, và Krugman đặc biệt khẳng định ngược lại rằng tình trạng hiện thời có thể giải quyết được bằng việc kích cầu cực mạnh để chuyển sang một cân bằng tốt hơn nhiều, trong hiện tại lẫn tương lai gần. (Trong tương lai xa, như Keynes nói, thì chúng ta đều tỏi.) Trong trường hợp này, khi gói kích cầu giải quyết khủng hoảng như vậy, tôi đoán chắc là giá trị ngành tài chính lại được nâng lên đáng kể.

Khi ngành tài chính mang lại nhiều giá trị, thì không ngạc nhiên gì khi nhân công trong ngành được trả lương rất cao. Và nhân công cấp cao thì lương và thù lao càng cao hơn gấp bội. Thời gian gần đây có rất nhiều nghiên cứu giải thích hiện tượng CEO hưởng thu nhập khổng lồ, nổi bật như nghiên cứu của Gabaix và Landier. Gabaix và Landier cho thấy là có thể giải thích mức tăng chóng mặt của lương CEO thời gian gần đây chỉ nhờ vào giá trị tăng của các công ty, chứ không nhất thiết vì CEO giỏi kinh khủng, hay vì họ gian lận và kiếm lời bất chính.

...
Bài này viết từ nhiều hôm trước mà chưa đăng, hôm nay Krugman lại có bài viết chê bai tăng năng suất của ngành tài chính ở Mỹ. Ở thời điểm này, khó biết xác đáng hiện thực như thế nào. Nhưng tôi nghiêng về cách giải thích rằng ngành tài chính có giá trị thực sự, rằng nó sẽ phục hồi và lại nở rộ, và mức thu nhập trong ngành, đặc biệt là cho nhân sự cấp cao, sẽ lại tăng rất mạnh.

Update: Dịch giả trên Minh Biện là Dr. Trần, trong bản đầu tiên tôi nhầm là Dự Trần. Lỗi đã sửa, cảm ơn anh Linh chỉ.

Update: Bác Giang, ý tôi về mâu thuẫn cụ thể là nếu như có cơ hội để chính sách kích cầu thành công, thì có nghĩa là những đánh giá hiện giờ về ngành tài chính (khi chưa/không có kích cầu) là đánh giá thấp hơn (nhiều) so với tiềm năng thực thụ nếu có kích cầu. Như vậy, nếu như kích cầu là đúng, thì không nên chỉ dựa vào con số hiện tại mà nói rằng ngành tài chính không mang lại giá trị gì.

Nhận định của bác về IB vs. traditional banking rất hợp lý. Tôi nghĩ là giá trị của IB đối với toàn nền kinh tế rất cao, và bây giờ có lẽ đang bị đánh giá thấp (so với scenario có cứu trợ kích cầu đầy đủ). Ngoài những yếu tố bác nói đã dẫn đến cuộc khủng hoảng hiện giờ, tôi nghĩ một yếu tố quan trọng (có thể là quan trọng nhất) là sự thừa thãi vốn ở thị trường Mỹ (vì giá đồng USD, vì current account deficit, vì savings glut, về demand for dollars vv.), dẫn đến việc ngành tài chính tìm đủ mọi cách để kiếm thêm tiền từ dòng vốn này.

Hậu khủng hoảng, có xu hướng tăng cường điều tiết bởi Nhà nước, như Krugman cổ xúy, hay như các nước châu Âu nhằm vào. Cũng có thể làm cách khác, là mở rộng thêm thị trường tài chính để bảo hiểm thêm hầu hết các rủi ro vĩ mô ít gặp phải. Dù rằng tôi không rõ ai có thể thực sự đứng ra bảo hiểm những rủi ro kiểu đó. Mấy hôm nay tôi đang đọc qua nền tảng các khái niệm risk và uncertainty trong kinh tế học (vNM và Savage), hôm nào đó chắc sẽ viết thêm về mối liên quan đến ngành tài chính.

Friday, April 10, 2009

Chính sách quy định giá thuê đất

Theo bài báo này trên VnExpress, Hà Nội mới quy định khung giá thuê đất. Trên Thanh Niên online có nói chi tiết hơn, tìm thêm thì thấy toàn văn quyết định ở đây. Mới nhìn qua, giá thuê bằng 2% trị giá mảnh đất có một ý nghĩa là lãi suất từ tài sản đất rất, rất thấp. May là khung giá chỉ áp dụng cho việc thuê đất của Nhà nước; mặc dù đất thuộc quản lý trực tiếp của Nhà nước là một phần không nhỏ đất sử dụng được ở Hà Nội, song vẫn còn để chút chỗ trống cho thị trường hoạt động. Cũng phải nói thêm là định giá đất nhà nước khác với giá thị trường tương đối nhiều (định giá cao hay thấp tùy vào mục đích và động cơ của cơ quan định giá).

Dù sao, có thêm hạn chế giá cả thì cũng thị trường cũng bị bóp méo thêm. Có thời gian tôi sẽ viết thêm sau.

Wednesday, April 8, 2009

Sachs và kế hoạch Geithner - Summers

Jeff Sachs lại cảnh báo thêm nguy cơ tiềm ẩn của bản kế hoạch cho vay để mua nợ xấu của Geithner - Summers ở đây. (Tôi đọc qua blog của Krugman hai hôm trước.) Sachs, Krugman, Stiglitz và nhiều người khác đã cảnh báo rằng bản kế hoạch này trên trung bình lấy tiền thuế của dân để trợ giúp cho cổ đông các công ty; tuy vậy DeLong và một số người cho rằng điều này không đáng lo, vì họ nghĩ xác suất rủi ro của nợ xấu tương đối thấp. Bài mới này của Sachs đưa ra một mối lo khác, có tiềm năng nguy hiểm hơn nhiều, là các ngân hàng sở hữu nợ xấu hiện nay có thể tự tạo ra công ty mua nợ, vay của chính phủ, mua lại nợ của chính mình, rồi tự phá sản và ăn chênh lệch từ phần vay ưu đãi của chính phủ. Sự khác biệt giữa hai ví dụ tương đối lớn. Ở ví dụ về việc trợ cấp cho cổ đông bằng thuế của dân nói trên, vẫn có thể lý luận rằng việc làm này có hiệu quả nếu như thị trường đang bi quan quá mức, và đánh giá quá cao khả năng nợ không đòi được. Điều này có thể hợp lý, nhất là khi mỗi cá nhân/ngân hàng đánh giá cao khả năng này, vì cả thị trường bị tắc vào một cân bằng xấu, một vòng luẩn quẩn tệ hại giữa dự đoán khủng hoảng và thực tế khủng hoảng. Trong khi đó, ở ví dụ mới về việc tự bán nợ nội bộ của Sachs, cho dù thị trường có bi quan hay không, việc thực hiện mẹo này khiến các công ty chắc chắn kiếm được tiền từ hầu bao của chính phủ, tức là tiền thuế của dân, trong mọi tình huống.

Xem ra, tình hình tài chính ở Mỹ và thế giới vẫn chưa cải thiện được một sớm một chiều.

Update: Cảm ơn bác Giang giới thiệu. Bài viết của Nemo Publius nói Sachs không chịu đọc kỹ một clause của kế hoạch Geithner cấm insider trading như Sachs nói. Tuy vậy, Nemo cũng không để ý rằng Sachs dùng ví dụ insider trading một cách đơn giản hóa. Phần cuối bài, Sachs cũng nói rằng cái mẹo đơn giản như trong bài thì có thể bị cấm, nhưng ngân hàng sẽ có collusion và các mẹo khác đi vòng, phức tạp hơn. Vì thế có nhiều khả năng là ngân hàng vẫn "chơi" kế hoạch Geithner được. Tôi nghĩ cũng là hai cách nhìn nửa cốc vơi, nửa cốc đầy mà thôi.

Mua bán thuốc lá có phải là giao dịch bị ghê tởm?

Nói rộng ra, giao dịch bị ghê tởm mà tôi nhắc đến ở bài trước là một loại hành vi kinh tế có ảnh hưởng ngoại vi (externality) đến nhiều người khác trong xã hội. Có điều ảnh hưởng ngoại vi được nhấn mạnh ở đây thuộc về khía cạnh quan điểm, chuẩn mực, thước đo của những người bị ảnh hưởng, chứ không phải là ảnh hưởng ngoại vi thông thường trong kinh tế học, có thể đo bằng các tiêu chuẩn khách quan.

Việc hút thuốc lá gây ảnh hưởng ngoại vi rất nhiều đến những người xung quanh phải hít khói thuốc. Thậm chí, vì ảnh hưởng của nó đến sức khỏe người hút thuốc tương đối lớn, nên nhìn rộng ra về quan hệ gia đình thì nó cũng có ảnh hưởng ngoại vi xấu đến các thành viên khác trong gia đình: Cho dù mỗi cá nhân có quyền quyết định giữa việc giảm tuổi thọ và cảm giác khoan khoái nhờ thuốc lá, thì việc họ giảm tuổi thọ cũng gián tiếp ảnh hưởng xấu đến gia đình họ. Vì thế, một động thái chuẩn mực để chỉnh sửa sự thiếu sót của thị trường thuốc lá là đánh thuế thuốc lá.

Tuy vậy, đấy là nói đến việc hút thuốc. Còn chuyện buôn bán giao dịch thuốc lá, theo tôi, không thuộc về phạm vi các giao dịch bị ghê tởm. Tôi nghĩ không nhiều người muốn đặt thuốc lá hoàn toàn ra khỏi thị trường: phần lớn chấp nhận việc hút thuốc là một phần của xã hội, dù họ không muốn nó ở gần mình. Do đó, phần lớn chấp nhận việc đánh thuế thuốc lá rất nặng, và để cho giao dịch thuốc lá diễn ra tự do dưới mức thuế đó.

Đấy chính là cách hầu hết các nước xử lý vấn đề thuốc lá hiện nay. Bản đồ dưới đây của The Economist cho thấy tỷ lệ thuế thuốc lá trên thế giới. Hầu hết các nước đánh thuế rất cao, song ngành công nghiệp thuốc lá vẫn hoạt động tốt. Nếu như xã hội có thể chấp nhận một tỷ lệ thuế suất rất cao đối với những giao dịch bị ghê tởm, song vẫn cho phép chúng (trong khuôn khổ pháp lý), thì có lẽ sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề. Ví dụ, có thể hợp pháp hóa hoạt động mại dâm (người trưởng thành), đồng thời đánh thuế rất cao, và dùng tiền thuế để hoạt động xã hội, mở rộng trường học, chống buôn người vv. Hay là hợp pháp hóa thị trường bộ phận cơ thể (thận chẳng hạn), đánh thuế cao, và dùng tiền thuế để giúp đỡ những người cần cấy ghép bộ phận cơ thể mà không có đủ tiền. Chắc tôi sẽ viết thêm về vấn đề thị trường bộ phận cơ thể và giao dịch bị ghê tởm khi có thời gian.


Update: Về "lãi" như Lê Tuấn nói, hay cũng có thể gọi là phần dư phúc lợi xã hội: trong điều kiện chung thì tồn tại một mức thuế vừa đủ để phúc lợi xã hội tốt nhất. Phúc lợi ở đây hiểu nôm na là lợi ích của các giao dịch, trừ đi những hậu quả bất lợi, trong đó có tính đến sự phản cảm của một số thành phần xã hội. Nếu như sự phản cảm quả thực rất lớn, ví dụ trong trường hợp giao dịch "giết người trả thù" thời nay, thì đúng là mức thuế tối ưu sẽ phải vô cùng cao, tương đương với việc cấm đoán hoàn toàn.

Như blueghost, phải nói là ở đây còn nhiều vấn đề khác dính đến quyền và tự do cá nhân nữa.) Tuy vậy, trong nhiều trường hợp khác, ví dụ như mại dâm, tôi nghĩ là mức thuế tối ưu có thể cao, mà vẫn tạo ra thị trường tương đối nhộn nhịp, hơn nữa có thể giảm rất nhiều rủi ro của thị trường "đen" phi pháp như hiện nay. Tôi không nói đến chuyện sẽ làm mất hoàn toàn thị trường đen: hễ có thuế, là có khả năng trốn thuế; tuy nhiên việc có một thư thuế minh bạch, hợp pháp, thì chung quy vẫn có nhiều điểm lợi thế hơn là để hoàn toàn một thị trường phi pháp, với đủ loại "thuế" phi pháp.

Nói về thị trường mại dâm, có một lý do chính đáng để cấm, hoàn toàn dựa vào quan niệm phúc lợi chứ không phải là quan điểm đạo đức (vốn tương đối khó định nghĩa và ủng hộ trong khuôn khổ triết học hiện đại). Khi có thời gian tôi sẽ viết thêm.

Sunday, April 5, 2009

Chối bỏ thị trường vì giao dịch "bị ghê tởm"

Al Roth mới đây khởi xướng một blog về kinh tế thiết kế, mà tôi để trong danh sách liên kết trên blog này. Al Roth là bậc thầy về lý thuyết trò chơi thương thuyết (bargaining game), về kinh tế thí nghiệm (experimental economics - phân biệt với empirical economics mà tôi tạm dịch là kinh tế thực nghiệm), và kinh tế thiết kế (market design - có thể dịch là thiết kế thị trường; cái tên này Al Roth cho là không đủ rộng bằng tên "design economics", tôi dịch là kinh tế thiết kế). Ông là một trong những nhà kinh tế đầu tiên mang lý thuyết tiện dụng (utility theory) ra làm thí nghiệm (cùng thời với Kahneman & Tversky), và cũng là một trong những người đầu tiên nghiên cứu các vấn đề thiết kế thị trường để nâng cao/tối ưu hiệu quả một cách đảm bảo (chứ không phải nâng cao năng suất kiểu Đại Nhẩy Vọt). Website của ông có nhiều bài viết giới thiệu chung rất thú vị về những chuyên ngành ông nghiên cứu.

Thời gian gần đây, Al Roth chú ý nhiều đến các thị trường bị xã hội hay pháp luật hạn chế hoặc cấm tồn tại, bởi các giao dịch trên đó được coi là đáng "ghê tởm" (repugnance trade/repugnance market - tôi không biết dịch thế nào thì tốt hơn, nhờ các bạn đề xuất giúp). Bài viết tóm tắt chính được đăng trên Journal of Economic Perspectives, và blog về kinh tế thiết kế dành một phần không nhỏ cho mục này. Ví dụ hiện nay về kiểu giao dịch này (ở phần lớn các nước/xã hội) bao gồm dịch vụ tình dục, giao dịch bộ phận cơ thể con người (sống hay chết), mua bán kết quả thi đấu thể thao, giao dịch bộ phận cơ thể động vật hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, giao dịch ma túy và chất gây nghiện, một số loại thịt như ngựa, chó ở nhiều nước, vv. Trong quá khứ, có thể kể đến giao dịch tài chính có lấy lãi (từng là giao dịch ghê tởm ở các nước đạo Thiên chuá, hiện vẫn là giao dịch ghê tởm ở các nước đạo Hồi), giao dịch bảo hiểm nhân thọ (từng bị coi là đặt giá lên mạng sống con người), rượu (vẫn cấm ở các nước đạo Hồi), vv. Việc hiểu được tại sao một số giao dịch bị xã hội lên án và coi là ghê tởm sẽ giúp ích đánh giá các đạo luật, chính sách hạn chế hay cấm các giao dịch ấy.

Ví dụ điển hình được Al Roth nghiên cứu nhiều là thị trường (hiện chưa có) thận sống. Hiện nay ở Mỹ và hầu hết các nước, việc buôn bán thận người sống để ghép cho bệnh nhân bị cấm hoàn toàn. Người ta có thể hiến, tặng, thậm chí là trao đổi (luật trao đổi thận được thông qua ở Mỹ cách đây không lâu), nhưng không được mua bán. Thận là bộ phận ghép tương đối dễ dàng (một khi tìm được thận tương thích), và hàng năm có rất rất nhiều người chờ thận sống, phải chạy thận nhân tạo, thậm chí là chết vì không tìm thận sống để ghép kịp. Những bệnh nhân như vậy sẵn sàng trả rất nhiều tiền, nhưng pháp luật không cho thực hiện mua bán như vậy.

Cách giải thích của Al Roth về sự cấm đoán của pháp luật là xã hội, bao gổm rất nhiều người khác, vốn không hề tham gia vào giao dịch giữa người bán và người mua thận, coi những giao dịch ấy thuộc diện ghê tởm, không được phép tiến hành. Có một vài lý do giải thích tại sao xã hội lại ghê tởm những giao dịch này, bao gồm những luận cứ dựa vào nền tảng đạo đức, khả năng tạo ra tác động xấu, tác động ngoại biên (externalities) của thị trường, vv. Bài viết của Al Roth xét nhiều khía cạnh như vậy.

Rất tiếc là tôi phải đi chợ, thành ra sẽ viết tiếp vào một lần sau.